Tố Hữu - người cộng sản kiên trung, nhà văn hóa tài năng
Nghệ thuật trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 22h:14' 19-05-2024
Dung lượng: 9.2 MB
Số lượt tải: 17
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 22h:14' 19-05-2024
Dung lượng: 9.2 MB
Số lượt tải: 17
Số lượt thích:
0 người
Chịu trách nhiệm xuất bản
Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM CHÍ THÀNH
Chịu trách nhiệm nội dung
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS. ĐỖ QUANG DŨNG
Biên tập nội dung:
ThS. PHẠM THỊ KIM HUẾ
TS. HOÀNG MẠNH THẮNG
ThS. NGUYỄN TRƯỜNG TAM
ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:
LÊ HÀ LAN
NGUYỄN THỊ HẰNG
NGUYỄN TRƯỜNG TAM
BỘI THU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 4854-2020/CXBIPH/17-347/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 5625-QĐ/NXBCTQG, ngày 01/12/2020.
Nộp lưu chiểu: tháng 12 năm 2020.
Mã ISBN: 978-604-57-6277-6
Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm
cña Th viÖn Quèc gia ViÖt Nam
Hå ChÝ Minh
NghÖ thuËt tr¶ lêi pháng vÊn cña Chñ tÞch Hå ChÝ Minh / Hå ChÝ Minh. H. : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2020. - 440tr. ; 24cm
ISBN 9786045755013
1. Hå ChÝ Minh, 1890-1969, ChÝnh trÞ gia, ViÖt Nam 2. T tëng
Hå ChÝ Minh 3. Bµi pháng vÊn
335.4346 - dc23
CTF0470p-CIP
TỔ CHỨC VÀ BIÊN SOẠN BẢN THẢO
TS. NGUYỄN VĂN ĐẠO
ThS. NGUYỄN NGỌC HÀ
ThS. PHẠM THỊ KIM HUẾ
ThS. NGUYỄN TRƯỜNG TAM
ThS. VŨ VĂN NÂM
Ảnh bìa 1: Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Ôxtrâylia W. Bớcsét,
tháng 4 năm 1964
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ
thiên tài của Đảng và Nhân dân ta, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt
Nam, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế. Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của mình,
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tự viết nhiều bài báo mà Người
còn tích cực, chủ động gặp gỡ, tiếp xúc, trả lời phỏng vấn (cả trực
tiếp và qua thư, điện tín) của các phóng viên, đại biểu các báo ở
trong nước và nước ngoài vì Người coi đây là một kênh hết sức
quan trọng để nhân dân thế giới hiểu rõ tình hình, cũng như chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam, qua đó tranh
thủ sự đồng tình và ủng hộ của quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự độc lập về tư duy lý
luận, thấu hiểu tình hình thế giới và thực tiễn của đất nước, tầm
nhìn chiến lược và sự sáng suốt của các quyết sách chính trị cũng
như khả năng giải quyết tài tình mối quan hệ giữa giai cấp và dân
tộc, giữa mục tiêu lý tưởng lâu dài và những mục tiêu cụ thể. Bởi
vậy, trong các cuộc trả lời phỏng vấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
giữ thế chủ động, thể hiện rõ lập trường, quan điểm của Đảng,
Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trên nhiều khía cạnh, nhiều vấn
đề: từ trong nước đến quốc tế, từ chính sách đối nội đến chính sách
đối ngoại, từ chính trị, kinh tế, xã hội đến an ninh, quốc phòng…
Trong những cuộc tiếp xúc, trả lời phỏng vấn, các câu trả lời của
5
Người đều ngắn gọn, dễ hiểu, súc tích, đi thẳng vào nội dung câu
hỏi; kể cả những câu hỏi có tính nhạy cảm, Người cũng không né
tránh mà luôn khéo léo, linh hoạt trong cách xử lý. Trí tuệ mẫn tiệp
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạt đến trình độ nghệ thuật cao, cả
khi Người viết hay trả lời phỏng vấn.
Để có thêm tài liệu nghiên cứu, học tập tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh; tuyên truyền về cuộc đời và sự nghiệp
cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp Kỷ niệm 130 năm
Ngày sinh của Người (19/5/1890 - 19/5/2020) và 95 năm Ngày Báo
chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2020), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Nghệ thuật trả lời
phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuốn sách bao gồm các
bài viết, trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được tuyển
chọn từ bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (gồm 15 tập) do Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành năm 2011.
Ngày nay, trong một “xã hội mở” cả ở trong nước và ngoài
nước, sự tiếp xúc với giới báo chí trở thành một hoạt động thường
ngày của nhiều người; tuy nhiên, khi đọc và nghe các câu trả lời
phỏng vấn chúng ta vẫn cảm thấy còn rất nhiều điều cần được cải
tiến để nội dung phỏng vấn thêm sâu sắc và phương cách thể hiện
thêm sống động. Đọc lại và nghiền ngẫm, học theo cách Chủ tịch
Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn là những bài học vận dụng không
bao giờ cũ, là kinh nghiệm quý báu cho những người làm công tác
báo chí nói chung và những người thường xuyên tiếp xúc, trả lời
phỏng vấn với giới báo chí, truyền thông nói riêng.
Xin giới thiệu cuốn sách với đông đảo bạn đọc.
Tháng 4 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
1
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA MỘT PHÓNG VIÊN MỸ1
Hỏi: Anh đến Pháp với mục đích gì?
Đáp: Để đòi quyền tự do cho dân An Nam.
Hỏi: Bằng cách nào?
Đáp: Bằng cách làm việc hết mình và luôn xông xáo
tiến lên.
Hỏi: Nhưng đất nước đã sẵn sàng chưa? Các phong trào
vũ trang hiện nay ra sao?
Đáp: Tình cảnh nước Việt Nam thật đáng buồn. Ngoài
chúng tôi (chỉ một số người yêu nước) chưa có sự chuẩn bị
nào cả và các hoạt động vũ trang gần đây đã hoàn toàn thất
bại và không có tiếng vang nào...
Hỏi: Từ lúc đến Pari tới nay, anh đã đạt kết quả nào rồi?
Đáp: Ngoài các nghị sĩ, tôi đã gặp tất cả những người chịu
giúp chúng tôi. Những người Xã hội nghĩ rằng Chính phủ
_______________
1. Qua giới thiệu của Đại diện Chính phủ lâm thời Triều Tiên tại
Pari là ông Kim Tchong Wen và Kim Koei Tche, một phóng viên Mỹ đã
phỏng vấn Nguyễn Ái Quốc (B.T).
7
Pháp không khi nào chấp nhận những yêu cầu của chúng tôi
nhưng họ vẫn vui lòng giúp đỡ. Và đó là chỗ dựa quan trọng
đối với chúng tôi. Chúng tôi cũng hoạt động trong những
tầng lớp khác nữa.
Trả lời trước ngày 2/9/1919.
In trong sách Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.1, tr.69.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.1, tr.16.
8
2
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN
CỦA PHÓNG VIÊN BÁO YI CHÊ PAO
Cuộc trao đổi giữa N.A.Q, Phan Văn Trường, 1 đại biểu
Triều Tiên là Kim Tchong Wen và 1 phóng viên Mỹ tại nhà
phóng viên:
PV: Ông đến Pháp với mục đích gì?
Đáp: Để đòi những quyền tự do mà chúng tôi phải được
hưởng.
PV: Chương trình của ông là gì?
Đáp: Luôn luôn tiến lên phía trước, tùy theo sức mạnh
của chúng tôi.
Hỏi về những công việc của đảng ở Đông Dương và những
cuộc khởi nghĩa nổ ra từ đầu chiến tranh, Nguyễn Ái Quốc đáp:
“Mục đích của chính quyền Pháp hoàn toàn khác với
mục đích của người Nhật ở Triều Tiên. Người Nhật muốn
Nhật Bản hóa hoàn toàn người Triều Tiên. Còn nước Pháp,
thì ngược lại, muốn duy trì vĩnh viễn sự bất bình đẳng giữa
người An Nam và người Pháp, nó muốn, bằng cách lợi dụng
lao động của người An Nam, bòn rút vô tận các sản phẩm đủ
loại mà Đông Dương rất sẵn và cố gắng không cho người An
Nam tự tạo cho mình một vị trí kinh tế độc lập. Các thứ
9
thuế đủ loại cũng như những biện pháp hạn chế và chế độ
giáo dục công cộng đều xuất phát từ những toan tính đó.
Bằng cách cản trở văn minh và tiến bộ của dân tộc An Nam,
người Pháp vĩnh viễn đặt dân tộc này ra ngoài lề của nền
văn minh thế giới và buộc họ phải đáp ứng vô cùng tận
những đòi hỏi không ngừng thay đổi của chúng. Trong
những năm gần đây, điều kiện sống ở Đông Dương trở nên
thảm hại chưa từng thấy”.
Hỏi về những hoạt động từ khi đến Pháp, Nguyễn Ái Quốc
trả lời:
“Ngoài việc vận động các thành viên nghị viện, tôi đã tìm
cách nhen nhóm thiện cảm mỗi nơi một chút, trong đó Đảng
Xã hội đã tỏ ra ít thỏa mãn với các biện pháp của Chính phủ
và đã sẵn lòng ủng hộ chúng tôi. Ở Pháp, đó là hy vọng duy
nhất của chúng tôi. Về hoạt động của chúng tôi ở các nước
khác, chính ở nước ông (Mỹ) chúng tôi có nhiều thành công
hơn. Còn ở chỗ khác, ở đâu chúng tôi cũng chỉ gặp khó khăn”.
Nguyễn Ái Quốc tiếp tục trình bày thật cảm động về tình
hình kinh tế, tình trạng giáo dục, đời sống khổ sở của người
An Nam ở Đông Dương. Ông Phan cũng kể rất tỉ mỉ về cuộc
đời gian nan của ông trước mặt Kim Tchong Wen và mọi
người trong hãng thông tấn của ông.
Báo Yi Chê Pao xuất bản ở Thiên Tân, Trung Quốc, ngày 20/9/1919.
In trong sách Thu Trang: Nguyen Ai Quoc à Paris, Pari, 1993, tr.69-70.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.457-458.
10
3
THĂM MỘT CHIẾN SĨ QUỐC TẾ CỘNG SẢN NGUYỄN ÁI QUỐC1
Tại Đông Dương, ảnh hưởng phong trào Găngđi như thế
nào? Tiếng vang, làn sóng của phong trào đó có lan đến đấy
chút nào không? - Tôi hỏi Nguyễn Ái Quốc.
- Không. - Nguyễn Ái Quốc trả lời - Nhân dân An Nam
chúng tôi là những người nông dân bị nhấn chìm trong bóng
đêm hết sức tối tăm. Không một tờ báo nào, không ai hiểu
bây giờ trên thế giới đương diễn ra những gì; đêm tối, thực sự
là đêm tối.
Nguyễn Ái Quốc hiện là người An Nam duy nhất ở
Mátxcơva, đại diện của chủng tộc Mã Lai cổ xưa. Đó là một
thanh niên gầy gò, linh hoạt, mặc cái áo len đan. Đồng chí
nói tiếng Pháp - tiếng của những kẻ áp bức, nhưng mà
những chữ Pháp từ miệng đồng chí Nguyễn Ái Quốc nghe
trầm trầm, lắng xuống như hồi âm của tiếng mẹ đẻ quê
hương đồng chí.
Nguyễn Ái Quốc đã nói đến hai chữ “văn minh” một cách
đầy khinh bỉ. Đồng chí đã đặt chân qua hầu hết các nước thuộc
_______________
1. Bài viết của nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam (B.T).
11
địa trên thế giới, đã tới miền Bắc và miền Trung châu Phi,
đã thấy rất nhiều cảnh đau khổ. Khi nói chuyện, đồng chí
thường hay dùng chữ “anh em”. Anh em của Nguyễn Ái Quốc
ở đây là những người da đen, những người Ấn Độ, những
người Xyri, những người Trung Quốc...
Nguyễn Ái Quốc đã có lần gửi thư tới nhà văn Rơnê
Marăng, người da đen có quốc tịch Pháp, là tác giả cuốn tiểu
thuyết Batuala và đã đặt một câu hỏi một cách thẳng thắn:
“Ông Marăng, ông muốn hay không muốn giúp đỡ công cuộc
giải phóng các nước anh em ở thuộc địa?”. Rơnê Marăng,
người được Viện Hàn lâm Pháp quàng cho một vòng hoa
danh dự, đã trả lời Nguyễn Ái Quốc một cách dè dặt và
quanh co.
- Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam. Những
gia đình như thế ở nước chúng tôi không phải làm việc gì.
Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo,
đồng chí chắc biết Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là
một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử.
Và trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm về “thế giới đại
đồng”. Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba
chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người
da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và
từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp,
muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng
trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy
người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi
xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà
cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế
12
nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài. Thân
phận người An Nam chỉ là thân phận người nông nô. Chúng
tôi bị cấm, không phải chỉ là bị cấm đi du lịch ra nước ngoài
mà cả đi trong nước cũng không được. Đường sắt được xây
dựng với mục đích “chiến lược” riêng. Theo con mắt của bọn
thực dân, chúng tôi chưa đủ trình độ để sử dụng loại đường
này. Tôi lang thang ra bờ biển và tôi đã vượt biển ra nước
ngoài. Năm ấy tôi 19 tuổi. Ở Pháp lúc đó đang có tổng tuyển
cử. Bọn tư sản Pháp đã dùng những thủ đoạn bẩn thỉu nhất
để bôi nhọ lẫn nhau.
Gương mặt Nguyễn Ái Quốc nhăn lại một cách khinh bỉ.
Đôi mắt nặng nề, u ám bỗng bừng lên. Trong đôi mắt mở to,
ứa lệ, anh nhìn về xa xăm:
- Khi bọn Pháp đến cướp nước tôi, những gia đình nền
nếp, gia giáo đã bỏ chạy hết không cộng tác với chúng. Bọn
vô lại quen thói xu nịnh đã chiếm hết nhà cửa và vườn ruộng,
chúng trở nên những tên tư sản mới giàu sụ, và chúng có khả
năng giáo dục con cái theo kiểu Pháp. Bên chúng tôi coi
những người thanh niên đi học các trường dòng của bọn Pháp
là bọn người bỏ đi, là những đồ cặn bã. Thế mà người ta đã
trả tiền để làm việc đó. Và dù những kẻ học ở các trường đó
có đần độn đến mức nào chúng cũng cố để được đi làm cảnh
sát, làm sen đầm. Bọn cố đạo ở nước tôi chiếm tới một phần
năm tổng số ruộng đất cả nước. Chỉ có những chủ đồn điền
mới so sánh được với họ.
Thực dân Pháp là gì? Ồ, đó là những kẻ bất tài và thiển
cận. Việc quan tâm đầu tiên của chúng là hình thành nhóm
người thân thuộc. Sau đó, là chiếm đoạt và cướp bóc thế nào
13
cho thật nhiều và thật nhanh. Mục đích của toàn bộ chính
sách này là có được một ngôi nhà nhỏ, “ngôi nhà nhỏ của
mình” ở Pháp.
- Thực dân Pháp đầu độc nhân dân chúng tôi. Chúng bắt
mọi người phải uống rượu. Chúng tôi có phong tục lấy gạo
ngon làm ra rượu uống, khi có bạn tới chơi hoặc khi có ngày
giỗ tổ tiên. Bọn thực dân Pháp đã lấy gạo xấu, rẻ tiền nấu
rượu. Không ai thèm mua của chúng. Khốn thay rượu làm ra
lại quá nhiều. Sau đó, người ta hạ lệnh cho các viên tỉnh
trưởng cứ theo đầu người mà bắt buộc phải đi mua thứ rượu
không ai uống.
Tôi đã hình dung ra được một cách rất cụ thể bọn thực
dân đang dùng rượu đầu độc như thế nào dân tộc An Nam
đáng yêu, một dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét
những gì thái quá. Dáng dấp của con người đang ngồi trước
mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì
thật lịch thiệp và tế nhị. Văn minh châu Âu trên đất nước ấy
dùng lưỡi lê và rượu độc và che giấu tất cả những cái đó dưới
tà áo dài đen của bọn cố đạo. Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra
một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là
một nền văn hóa tương lai.
- Hiện nay, ở Pari, một nhóm các đồng chí từ các nước thuộc
địa của Pháp, 5-6 người Nam Kỳ, Xuđăng, Mađagátxca, Haiti
đang xuất bản tờ báo Le Paria để chống lại chính sách thuộc
địa của Pháp. Đó là tờ báo nhỏ. Các cộng tác viên phải bỏ tiền
túi ra để xuất bản, thay cho việc nhận tiền nhuận bút.
Cây gậy tre với lời hiệu triệu in trên báo đã bí mật đến
khắp các làng mạc. Nó được chuyển từ vùng này sang vùng
14
khác, và đã có sự đồng tình với nhau. Nhưng người An Nam
đã phải trả giá đắt cho việc đó, đã có những án tử hình và
hàng trăm người đã bị mất đầu.
- Người dân An Nam không có linh mục, không có tôn
giáo, theo cách nghĩ của châu Âu. Việc cúng bái tổ tiên hoàn
toàn là một hiện tượng xã hội. Chúng tôi không có những
người tư tế nào. Những người già trong gia đình hay các già
bản là người thực hiện những nghi lễ tưởng niệm. Chúng tôi
không biết uy tín của người thầy cúng, của linh mục là gì.
- Vâng, thật thú vị là chính quyền Pháp đã dạy cho
những người nông dân chúng tôi biết những từ “bônsêvích”
và “Lênin”. Chúng lùng bắt những người cộng sản trong dân
chúng, trong khi chẳng có người cộng sản nào, hoàn toàn
không có ngay cả trong ý niệm, và như vậy chính chúng đã
tuyên truyền cho chủ nghĩa bônsêvích và Lênin.
Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua
phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn
Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên
tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới.
Trên bàn có một tập bản thảo, một bản báo cáo công tác
rõ ràng, mang phong cách truyền tin của phóng viên. Anh
đang tưởng tượng đến đề tài: Đại hội Quốc tế Cộng sản năm
1947. Anh như đang nhìn thấy, nghe thấy diễn biến của hội
nghị, mà ở đó anh sẽ điều khiển chương trình nghị sự.
Lúc chia tay, Nguyễn Ái Quốc như nhớ điều gì.
- Vâng, chúng tôi còn có một cuộc “nổi dậy” nữa do Vua
An Nam trẻ tuổi Duy Tân phát động, chống lại việc đưa
những người nông dân của chúng tôi đến chiến trường của
15
Pháp. Vua Duy Tân đã chạy, bây giờ ông ấy đang sống lưu
vong. Hãy kể về ông ấy nữa.
Ô. MANĐENXTAM
Báo Ogoniok (Liên Xô), số 39, ngày 23/12/1923.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.460-464.
16
4
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA PHÓNG VIÊN BÁO
L'UNITÀ1
...
Tôi hỏi anh ở đâu đến.
- Tôi là người An Nam - bị Pháp cai trị, học sinh Trường
đại học Phương Đông ở Mátxcơva. Tôi tên là Nguyễn Ái Quốc.
- Anh kể cho nghe về đời học sinh được không?
- Được...
Trong nước, tôi lao động ở nông thôn, tôi rời Tổ quốc tôi
cách đây ba năm2.
- Tại sao anh lại sang châu Âu?
- Trước đây tôi có đọc một số tờ báo phát hành sang nước
_______________
1. Trả lời phỏng vấn của phóng viên Giôvanni Giécmanéttô, đăng
trên báo L'Unità của Đảng Cộng sản Italia từ năm 1924. Năm 1973, đồng
chí Rendô Máctineli, đảng viên Đảng Cộng sản Italia đã tìm thấy bài báo
này. Bài báo đã được đăng lại trên tờ Rinasitta, cơ quan lý luận của Đảng
Cộng sản Italia (B.T).
2. Nguyễn Ái Quốc rời Tổ quốc đã 13 năm, tức là từ năm 1911 (B.T).
17
tôi, một vài tờ có tính chống đối ở An Nam, có những người
lính lê dương do Poăngcarê gửi sang để cải huấn. Những
người lính lê dương này đọc đủ thứ. Họ là những kẻ chống
đối về bản chất. Họ cho tôi đọc các báo Pháp. Vì thế tôi nảy
ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao và tôi đã tới Pari. Khi
Trường đại học Phương Đông ở Mátxcơva mở, tôi bèn xin học.
- Trường có đông học sinh không?
- Tất cả có 1.025 người học thuộc 62 xứ thuộc địa trong
đó có 150 gái, 895 vào đảng cộng sản. Trong số 1.025 người
học 547 là nông dân, khoảng 300 là công nhân, còn là trí
thức tư sản.
- Anh nghĩ thế nào về sáng kiến bônsêvích này?
- Tôi rất phấn khởi đối với sáng kiến này. Tôi đã đọc
nhiều tuyên bố ủng hộ và đoàn kết của những người chống
đối nhưng không người nào đem lại cho chúng tôi một sự
giúp đỡ thiết thực để thoát khỏi chế độ nô lệ mà những
“người đi gieo rắc văn minh” đang giam hãm chúng tôi. Tôi
cho rằng sáng kiến này sẽ đem lại những kết quả rất tốt.
Nhiều người đã hiểu tình trạng kém cỏi của chúng tôi
nhưng chưa có ai, trừ những người làm cách mạng Nga, chỉ
cho chúng tôi con đường đi đến giải phóng. Ở Bacu, năm
1921, lần đầu tiên trong lịch sử của giai cấp vô sản, đã họp
một đại hội của các dân tộc phương Đông và chính Lênin,
đồng chí Ilítsơ thân mến của chúng tôi, đã nêu lên những
đề án và hướng dẫn chúng tôi đi những bước đầu để làm
cho chúng tôi có khả năng cùng tiến bước với giai cấp vô
sản thế giới.
18
- Tay anh làm sao thế?
- Không sao, anh trả lời. Tôi mang vòng hoa của học
sinh viếng Lênin, vì thế hai ngón tay tôi bị tê cóng. Lênin
thương tiếc!
- Các anh có bao nhiêu giáo sư? Chương trình có những
môn gì?
- Chúng tôi có 150 giáo sư dạy các môn: khoa học xã hội,
toán, duy vật lịch sử, lịch sử phong trào công nhân, khoa học
tự nhiên, lịch sử cách mạng, kinh tế chính trị học, v.v..
Trường đại học có một phòng chiếu bóng, một thư viện
47.000 cuốn sách. Mỗi dân tộc có một thư viện riêng gồm
sách, báo, tạp chí. Nên biết là chúng tôi thuộc 62 dân tộc mà
đoàn kết với nhau như anh em ruột thịt. Người học tự viết
lấy báo hằng tuần. Chúng tôi có một nhà an dưỡng ở Crimê
và hai nhà nghỉ hè, một trong hai nhà đó trước cách mạng là
lâu đài của một Quận công.
Anh hãy hình dung là ở trên đỉnh ngọn tháp của lâu đài,
gần con quạ, biểu tượng của đế chế, phấp phới lá cờ đỏ và ở
trong phòng khách, thay vào ngài Quận công, là những người
nông dân Triều Tiên hoặc Ácmêni nô đùa với nhau.
- Ai nấu cho các anh ăn?
- Chúng tôi thay phiên nhau làm bếp. Chúng tôi cũng
thay phiên nhau làm việc ở thư viện, ở câu lạc bộ, giặt giũ.
Chúng tôi tổ chức thành công xã. Công xã họp một tuần một
lần để thảo luận chính trị, và tổ chức các buổi biểu diễn nghệ
thuật, giải trí. Những sự sai phạm sẽ do một “toà án”, do
công xã bầu ra nếu thấy cần thiết, xét xử.
19
- Khi học xong, anh dự định làm gì?
- Dĩ nhiên là tôi sẽ trở về Tổ quốc tôi để đấu tranh cho sự
nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm
lắm. Chúng tôi chẳng có quyền gì cả, trừ quyền đóng thuế
cho “mẫu quốc” Pháp, cho bọn chủ bản xứ. Sự việc nổi bật
nhất là như thế này: chúng tôi là những người bị đô hộ, như
đồng chí biết, chúng tôi là những dân tộc “hạ đẳng”, và vì thế
chúng tôi không có quyền ứng cử, bầu cử. Ở nước Nga, ở cái
nước của những người dã man - giai cấp tư sản dân chủ gọi
các đồng chí Nga như thế -, chúng tôi có đầy đủ những quyền
như công dân Nga. Thật vậy, những đại biểu của chúng tôi
do Xôviết của chúng tôi bầu ra theo đúng kỳ hạn, đã cùng hội
họp với các đại biểu công, nông, binh. Đó, anh đã thấy rõ sự
đối xử khác nhau của chế độ dân chủ tư sản và chế độ dân
chủ công nhân đối với chúng tôi!
Chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau
khổ nữa. Những người “khai hóa” các nước chúng tôi không
để chúng tôi tự do. Nhưng chúng tôi tiếp tục đi theo con
đường Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận
dụng vào thực tiễn những bài học đã học được. Các đồng chí
của tôi làm việc phấn khởi, tin tưởng, nghiêm túc. Nhiều
người còn rất trẻ đã có một trình độ mácxít ít có thể tưởng
tượng là có thể có được vào tuổi đó. Chúng tôi hiểu rõ là
chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề, và tương lai của các
dân tộc thuộc địa tùy thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần
hy sinh của chúng tôi.
Ở phương Đông, từ Xyri đến Triều Tiên tôi chỉ nói các
nước thuộc địa và nửa thuộc địa, có một diện tích rộng mênh
20
mông với hơn 1.200 triệu dân. Cả vùng rộng lớn này nằm
dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc tư bản chủ nghĩa.
Các dân tộc ở đó không bao giờ có thể ngẩng đầu lên được
nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới. Những nghị
quyết của phái xã hội dân chủ tỏ cảm tình dù nồng nhiệt đến
đâu cũng không có sức nặng.
Việc thành lập trường đại học bônsơvích đã mở ra một
thời đại mới trong lịch sử các dân tộc thuộc địa ở phương
Đông, và nhà trường đã dạy chúng tôi nguyên lý đấu tranh
giai cấp, và nhà trường đã đặt mối liên hệ giữa chúng tôi với
các dân tộc phương Tây và trang bị cho chúng tôi - những
người nô lệ, khả năng hoạt động chặt chẽ.
- Khí hậu nước Nga thế nào, có cực lắm không?
- Có... Tôi chưa quen tuy đã ở hai năm. Nhưng không sao,
tôi sẽ khắc phục được.
Tôi đi thăm một công xã nông nghiệp. Thôi chào anh.
Báo L'Unità, ngày 15/3/1924.
Báo Nhân dân, số 6961, ngày 18/5/1973.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.465-468.
21
5
TRẢ LỜI CÁC NHÀ BÁO VỀ THÁI ĐỘ HIỆN THỜI
CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐỐI VỚI
TRUNG HOA VÀ PHÁP
Đối với Trung Hoa: Trung Hoa và Việt Nam có quan hệ
mấy ngàn năm với nhau về mọi phương diện văn hóa, chính
trị, kinh tế. Quan hệ ấy càng ngày càng thêm sâu xa, mà có
thể càng ngày càng thêm mật thiết.
Nước Việt Nam được thắng lợi trong sự độc lập, thì sự
thắng lợi ấy sẽ là một điều lợi cho Trung Hoa. Trung Hoa và
Việt Nam có chung với nhau một biên giới rộng mấy ngàn
dặm. Nay Việt Nam không phải là một thuộc địa của Pháp
nữa, nước Trung Hoa sẽ bớt đi một lo ngại về miền Nam, vì
trong dự định của một vài chính khách Pháp như P. Đume
chẳng hạn, thì bọn thực dân Pháp vẫn ngấm ngầm định
nhòm ngó mấy tỉnh trù phú miền Nam Trung Hoa như Vân
Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. Trung Hoa và Việt Nam có
quan hệ như răng với môi vậy.
Về một phương diện khác, nước Trung Hoa bao lâu nay bị
khốn khổ vì các điều ước bất bình đẳng, hẳn đã biết những
thống khổ của một dân tộc bị áp bức. Chính Tưởng Chủ tịch
cũng đã nói thế trong cuốn Trung Quốc vận mệnh. Lẽ tất
22
nhiên đối với nền độc lập Việt Nam, nước Trung Hoa phải
sẵn có cảm tình.
Nước Trung Hoa đã giúp đỡ gì chúng ta chưa? Về vật chất
chưa giúp gì, nhưng về phần tinh thần có thể nói là đã giúp
rồi vậy. Cuộc kháng chiến anh dũng của dân Trung Hoa
trong 8, 9 năm trời chống phát xít Nhật đã làm cho chúng ta
thêm tự tin ở mình, ở sự thắng lợi của cuộc chiến đấu của ta
bây giờ với quân xâm lược Pháp trong Nam Bộ. Nhật gần
Trung Hoa hơn Pháp gần nước ta nhiều, sức mạnh quân sự
của Nhật lại hơn hẳn quân Pháp bao nhiêu bực. Vậy mà cuối
cùng, dân tộc Trung Hoa đã đánh bại được Nhật. Tại sao
chúng ta lại sẽ không đánh bại được Pháp?
Chính sách của Việt Nam đối với Trung Hoa, lúc này tóm
lại là phải thân thiện.
Còn như trong buổi tiếp xúc đầu tiên này có những
chuyện khó khăn xảy ra (như việc tiêu tiền quan kim1, việc
xung đột thường ngày vì không hiểu ngôn ngữ nhau, v.v.)
thì đó là những chuyện không thể tránh được. Để giải quyết
những chuyện ấy, không những chỉ Chính phủ mà cả các
nhà đương chức Trung Hoa ở đây cũng tận tâm giải quyết
ổn thỏa. Dân ta lúc này bị điêu đứng về những chuyện ấy,
thì phải nhớ đến câu: Muốn gánh được nặng, phải chịu được
khó nhọc.
Đối với Pháp: Đối với bọn thực dân Pháp cố tâm dùng võ
lực lập lại chủ quyền của chúng ở đây, chúng ta nhất định
chống lại chúng kỳ cùng, và nhất định chúng ta sẽ phải
_______________
1. Một loại tiền Trung Quốc lúc bấy giờ (B.T).
23
thắng lợi. Sự hy sinh của đồng bào ta trong cuộc chiến đấu
oanh liệt trong Nam Bộ bây giờ, cử chỉ phi thường của một
chiến sĩ tự tẩm dầu xăng vào mình để vào đốt một kho dầu
của bên địch, tỏ ra rằng một dân tộc đã có tinh thần cao đến
bực ấy thì không sức mạnh nào có thể đè bẹp được.
Nhưng chúng ta không chống tất cả nước Pháp, tất cả
dân chúng Pháp. Nếu có những người Pháp muốn qua đây
điều đình một cách hòa bình (từ trước tới nay chưa có một
cuộc điều đình như vậy, nhưng giả sử có, lẽ tất nhiên chúng
ta sẽ hoan nghênh) thì điều kiện căn bản của cuộc điều đình
ấy là người Pháp phải thừa nhận nền độc lập của Việt Nam.
Còn ngoài ra có thể có những sự thương lượng để dung hòa
quyền lợi của cả hai bên. Có thể rằng: Những cơ sở mà người
Pháp đã bỏ vốn ra gây dựng ở đây từ trước đến giờ, nếu xét
ra cần thiết cho nền kinh tế quốc gia Việt Nam, sẽ được
chúng ta chuộc lại dần dần. Có thể rằng: Chúng ta hoan
nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai
thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể
rằng: Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng
như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong
cuộc kiến thiết quốc gia.
Nhưng, phải nhắc lại rằng, điều kiện chính vẫn là họ
phải thừa nhận nền độc lập của xứ này. Nếu không vậy, thì
không thể nói chuyện gì được cả.
Báo Cứu quốc, số 74, ngày 23/10/1945.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.84-86.
24
6
TRẢ LỜI CÁC NHÀ BÁO VỀ LỜI TUYÊN BỐ MỚI
ĐÂY CỦA TỔNG THỐNG MỸ TƠRUMAN
Cứ xét 12 điểm chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ này, thì
đều có ý nghĩa công minh chính trực cả, nhưng riêng năm điểm
có quan hệ mật thiết với các dân tộc nhược tiểu trên thế giới.
Điểm thứ nhất: “Hoa Kỳ không nghĩ tới một sự mở mang bờ
cõi nào vì những mục đích ích kỷ”. Về điều này từ trước đến nay
dân tộc Việt Nam đã hiểu rõ cái chính sách quang minh của Mỹ,
nhất là từ ngày Mỹ thừa nhận Phi Luật Tân độc lập thì dân Việt
Nam càng tin tưởng cái chính sách rộng rãi của Mỹ.
Điểm thứ hai: “Hoa Kỳ tin tưởng vào sự trở lại chủ quyền
của hết thảy các dân tộc đã mất chủ quyền ấy bởi cường lực”.
Nước Việt Nam là một trong những nước đã bị mất chủ quyền
bởi cường lực của Pháp. Và dân Việt Nam đã giành lại cái chủ
quyền ấy không những ở tay Pháp mà cả ở tay Nhật nữa. Sự tin
tưởng của Mỹ đã thành một sự thực ở Việt Nam, sự tin tưởng
của Mỹ càng giúp cho sự thực ấy thêm vững vàng.
Điểm thứ ba: “Hoa Kỳ không ưng thuận một sự thay đổi
lãnh thổ nào mà không được chính các dân tộc đương sự thỏa
thuận”. Về điều này, dân Việt Nam đã đoàn kết nhất trí
không bằng lòng bọn thực dân Pháp trở lại. Trong Nam Bộ
đã bắt đầu kháng chiến và toàn quốc sẽ cương quyết kháng
25
chiến đến cùng, không để bọn thực dân Pháp trở lại. Dân
chúng Ai Lao1 và Cao Miên2 cũng vậy. Toàn thể các dân tộc
Đông Dương đều kịch liệt phản đối thực dân Pháp.
Điểm thứ tư: “Tất cả các dân tộc đương chuẩn bị tự trị
được tự chọn lấy chính thể của họ”. Dân tộc Việt Nam chẳng
những chuẩn bị mà đã thực hành tự trị, đã có Chính phủ
theo chế độ dân chủ cộng hòa và đang sửa soạn triệu tập
toàn quốc đại hội để thông qua hiến pháp dân chủ cộng hòa.
Điểm thứ năm: “Không một chính phủ nào thành lập
bằng sự áp bức, bằng vũ lực trên một dân tộc khác, lại sẽ
được Hoa Kỳ thừa nhận cả”.
Hiện giờ bọn thực dân Pháp đương áp bức dân tộc Việt
Nam bằng võ lực để mưu lập lại cái chế độ nô lệ của họ trên
đất Việt Nam. Bọn thực dân Pháp lại cho vấn đề này là vấn đề
nội bộ của họ, kỳ thực nó là một vấn đề quốc tế, vì từ năm
1940 Pháp đã thành tay sai của Nhật và đến tháng 3 năm
1945 Pháp đã trao hoàn toàn chủ quyền cho Nhật. Chẳng
những thế, bọn thực dân Pháp đã giúp cho Nhật tấn công vào
Trân Châu Cảng (Pearl Habour)3, vì chính ngày hôm ấy, bọn
_______________
1. Lào (B.T).
2. Campuchia (B.T).
3. Trận Trân Châu cảng: Trận đánh mở đầu chiến tranh Thái Bình
Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Ngày 7/12/1941, Nhật không tuyên chiến, bất ngờ tấn công hạm đội
Mỹ ở cửa biển Trân Châu (Pearl Habour), căn cứ quân sự của Mỹ ở quần
đảo Haoai. Mỹ cho rằng Nhật sẽ tấn công Liên Xô nên thiếu sự đề phòng
và đã bị thiệt hại nặng nề. Đây là sự kiện chưa từng có trong lịch sử
chiến tranh hải quân. Hai ngày sau, ở ngoài khơi Mã Lai, thiết giáp hạm
Prince of Wales và tuần dương hạm Repulse của Anh cũng bị Nhật đánh
đắm. Sau đó, phe Đức - Ý - Nhật tuyên chiến với Mỹ. Cuộc Chiến tranh
thế giới thứ hai lan ra khắp thế giới.
26
thực dân Pháp ở Việt Nam đã ký điều ước bí mật để cho Nhật
đủ điều kiện gây chiến với Mỹ làm cho Mỹ tổn thiệt rất nhiều.
Vì những lẽ đó, nhân dân Việt Nam đối với lời tuyên bố
của Tổng thống Tơruman rất hoan nghênh và chắc rằng nước
Mỹ sẽ làm cho những lời tuyên bố ấy thực hiện ngay, nó đặt
nền móng cho hòa bình và hạnh phúc của nhân loại và trước
hết là cho các dân tộc nhỏ yếu.
Báo Cứu quốc, số 81, ngày 2/11/1945.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.94-95.
27
7
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA PHÓNG VIÊN
CÁC BÁO VỀ VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT1
Hỏi: Thưa Cụ, 14 điều trong báo “Việt Nam” đăng có
đúng không?
Trả lời: Đúng, nhưng phải thêm một điều nữa là đôi bên
đã đồng ý với nhau chưa nên công bố, không hiểu sao báo
Việt Nam lại đăng hết. Có lẽ báo ấy quên chăng?
Hỏi: Thưa Cụ, báo “Liên hiệp” đăng Chính phủ Việt Minh
từ chức là nghĩa gì?
Trả lời: Làm gì có Chính phủ Việt Minh, mà đã không có
thì từ chức làm sao?
Hỏi: Sao chưa cho các báo khác đăng 14 điều ấy?
Trả lời: Chưa đến lúc phát biểu. Về chính trị, thời gian
cũng quan trọng.
_______________
1. Ngày 24/12/1945, Việt Minh, Việt Nam Cách mạng Đồng minh và
Việt Nam Quốc dân Đảng đã ký kết văn bản thỏa thuận hợp tác nhằm
tăng cường sự đoàn kết, củng cố mặt trận liên hiệp quốc dân để tập trung
lực lượng vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Theo thỏa thuận
chung, văn bản này không công bố. Nhưng báo Việt Nam, cơ quan ngôn
luận của Việt Nam Quốc dân Đảng đã công bố (Xem phần Phụ lục in
trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.577-579) (B.T).
28
Hỏi: Cụ cho biết điều thứ 13 mà báo Việt Nam không
đăng? (Chủ tịch Hồ Chí Minh cười có ý bảo không nên nói
đến con số 13).
Hỏi: Chính phủ cũ lấy thêm những vị nào để thành lập
Chính phủ liên hiệp lâm thời?
Trả lời: Có cụ Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch, một
ông Bộ trưởng Vệ sinh (Y tế) và một ông Bộ trưởng Kinh tế.
Ông Nguyễn Mạnh Hà (người không đảng phái) đã tự
nhường xuống làm Thứ trưởng để tỏ lòng thành thực đoàn
kết của Chính phủ hiện thời.
Hỏi: Chính phủ liên hiệp lâm thời sẽ thành lập từ bao giờ
và tồn tại đến bao giờ?
Trả lời: Từ mồng 1 tháng Giêng đến mồng 6 tháng Giêng
dương lịch1.
Hỏi: Sao hai Bộ Quốc phòng và Nội vụ lại để cho người
không đảng phái?
Trả lời: Trước bàn: Nếu một bên giữ Bộ Quốc phòng thì
m...
Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM CHÍ THÀNH
Chịu trách nhiệm nội dung
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS. ĐỖ QUANG DŨNG
Biên tập nội dung:
ThS. PHẠM THỊ KIM HUẾ
TS. HOÀNG MẠNH THẮNG
ThS. NGUYỄN TRƯỜNG TAM
ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:
LÊ HÀ LAN
NGUYỄN THỊ HẰNG
NGUYỄN TRƯỜNG TAM
BỘI THU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 4854-2020/CXBIPH/17-347/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 5625-QĐ/NXBCTQG, ngày 01/12/2020.
Nộp lưu chiểu: tháng 12 năm 2020.
Mã ISBN: 978-604-57-6277-6
Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm
cña Th viÖn Quèc gia ViÖt Nam
Hå ChÝ Minh
NghÖ thuËt tr¶ lêi pháng vÊn cña Chñ tÞch Hå ChÝ Minh / Hå ChÝ Minh. H. : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2020. - 440tr. ; 24cm
ISBN 9786045755013
1. Hå ChÝ Minh, 1890-1969, ChÝnh trÞ gia, ViÖt Nam 2. T tëng
Hå ChÝ Minh 3. Bµi pháng vÊn
335.4346 - dc23
CTF0470p-CIP
TỔ CHỨC VÀ BIÊN SOẠN BẢN THẢO
TS. NGUYỄN VĂN ĐẠO
ThS. NGUYỄN NGỌC HÀ
ThS. PHẠM THỊ KIM HUẾ
ThS. NGUYỄN TRƯỜNG TAM
ThS. VŨ VĂN NÂM
Ảnh bìa 1: Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Ôxtrâylia W. Bớcsét,
tháng 4 năm 1964
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ
thiên tài của Đảng và Nhân dân ta, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt
Nam, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế. Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của mình,
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tự viết nhiều bài báo mà Người
còn tích cực, chủ động gặp gỡ, tiếp xúc, trả lời phỏng vấn (cả trực
tiếp và qua thư, điện tín) của các phóng viên, đại biểu các báo ở
trong nước và nước ngoài vì Người coi đây là một kênh hết sức
quan trọng để nhân dân thế giới hiểu rõ tình hình, cũng như chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam, qua đó tranh
thủ sự đồng tình và ủng hộ của quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự độc lập về tư duy lý
luận, thấu hiểu tình hình thế giới và thực tiễn của đất nước, tầm
nhìn chiến lược và sự sáng suốt của các quyết sách chính trị cũng
như khả năng giải quyết tài tình mối quan hệ giữa giai cấp và dân
tộc, giữa mục tiêu lý tưởng lâu dài và những mục tiêu cụ thể. Bởi
vậy, trong các cuộc trả lời phỏng vấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
giữ thế chủ động, thể hiện rõ lập trường, quan điểm của Đảng,
Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trên nhiều khía cạnh, nhiều vấn
đề: từ trong nước đến quốc tế, từ chính sách đối nội đến chính sách
đối ngoại, từ chính trị, kinh tế, xã hội đến an ninh, quốc phòng…
Trong những cuộc tiếp xúc, trả lời phỏng vấn, các câu trả lời của
5
Người đều ngắn gọn, dễ hiểu, súc tích, đi thẳng vào nội dung câu
hỏi; kể cả những câu hỏi có tính nhạy cảm, Người cũng không né
tránh mà luôn khéo léo, linh hoạt trong cách xử lý. Trí tuệ mẫn tiệp
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạt đến trình độ nghệ thuật cao, cả
khi Người viết hay trả lời phỏng vấn.
Để có thêm tài liệu nghiên cứu, học tập tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh; tuyên truyền về cuộc đời và sự nghiệp
cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp Kỷ niệm 130 năm
Ngày sinh của Người (19/5/1890 - 19/5/2020) và 95 năm Ngày Báo
chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2020), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Nghệ thuật trả lời
phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuốn sách bao gồm các
bài viết, trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được tuyển
chọn từ bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (gồm 15 tập) do Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành năm 2011.
Ngày nay, trong một “xã hội mở” cả ở trong nước và ngoài
nước, sự tiếp xúc với giới báo chí trở thành một hoạt động thường
ngày của nhiều người; tuy nhiên, khi đọc và nghe các câu trả lời
phỏng vấn chúng ta vẫn cảm thấy còn rất nhiều điều cần được cải
tiến để nội dung phỏng vấn thêm sâu sắc và phương cách thể hiện
thêm sống động. Đọc lại và nghiền ngẫm, học theo cách Chủ tịch
Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn là những bài học vận dụng không
bao giờ cũ, là kinh nghiệm quý báu cho những người làm công tác
báo chí nói chung và những người thường xuyên tiếp xúc, trả lời
phỏng vấn với giới báo chí, truyền thông nói riêng.
Xin giới thiệu cuốn sách với đông đảo bạn đọc.
Tháng 4 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
1
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA MỘT PHÓNG VIÊN MỸ1
Hỏi: Anh đến Pháp với mục đích gì?
Đáp: Để đòi quyền tự do cho dân An Nam.
Hỏi: Bằng cách nào?
Đáp: Bằng cách làm việc hết mình và luôn xông xáo
tiến lên.
Hỏi: Nhưng đất nước đã sẵn sàng chưa? Các phong trào
vũ trang hiện nay ra sao?
Đáp: Tình cảnh nước Việt Nam thật đáng buồn. Ngoài
chúng tôi (chỉ một số người yêu nước) chưa có sự chuẩn bị
nào cả và các hoạt động vũ trang gần đây đã hoàn toàn thất
bại và không có tiếng vang nào...
Hỏi: Từ lúc đến Pari tới nay, anh đã đạt kết quả nào rồi?
Đáp: Ngoài các nghị sĩ, tôi đã gặp tất cả những người chịu
giúp chúng tôi. Những người Xã hội nghĩ rằng Chính phủ
_______________
1. Qua giới thiệu của Đại diện Chính phủ lâm thời Triều Tiên tại
Pari là ông Kim Tchong Wen và Kim Koei Tche, một phóng viên Mỹ đã
phỏng vấn Nguyễn Ái Quốc (B.T).
7
Pháp không khi nào chấp nhận những yêu cầu của chúng tôi
nhưng họ vẫn vui lòng giúp đỡ. Và đó là chỗ dựa quan trọng
đối với chúng tôi. Chúng tôi cũng hoạt động trong những
tầng lớp khác nữa.
Trả lời trước ngày 2/9/1919.
In trong sách Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.1, tr.69.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.1, tr.16.
8
2
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN
CỦA PHÓNG VIÊN BÁO YI CHÊ PAO
Cuộc trao đổi giữa N.A.Q, Phan Văn Trường, 1 đại biểu
Triều Tiên là Kim Tchong Wen và 1 phóng viên Mỹ tại nhà
phóng viên:
PV: Ông đến Pháp với mục đích gì?
Đáp: Để đòi những quyền tự do mà chúng tôi phải được
hưởng.
PV: Chương trình của ông là gì?
Đáp: Luôn luôn tiến lên phía trước, tùy theo sức mạnh
của chúng tôi.
Hỏi về những công việc của đảng ở Đông Dương và những
cuộc khởi nghĩa nổ ra từ đầu chiến tranh, Nguyễn Ái Quốc đáp:
“Mục đích của chính quyền Pháp hoàn toàn khác với
mục đích của người Nhật ở Triều Tiên. Người Nhật muốn
Nhật Bản hóa hoàn toàn người Triều Tiên. Còn nước Pháp,
thì ngược lại, muốn duy trì vĩnh viễn sự bất bình đẳng giữa
người An Nam và người Pháp, nó muốn, bằng cách lợi dụng
lao động của người An Nam, bòn rút vô tận các sản phẩm đủ
loại mà Đông Dương rất sẵn và cố gắng không cho người An
Nam tự tạo cho mình một vị trí kinh tế độc lập. Các thứ
9
thuế đủ loại cũng như những biện pháp hạn chế và chế độ
giáo dục công cộng đều xuất phát từ những toan tính đó.
Bằng cách cản trở văn minh và tiến bộ của dân tộc An Nam,
người Pháp vĩnh viễn đặt dân tộc này ra ngoài lề của nền
văn minh thế giới và buộc họ phải đáp ứng vô cùng tận
những đòi hỏi không ngừng thay đổi của chúng. Trong
những năm gần đây, điều kiện sống ở Đông Dương trở nên
thảm hại chưa từng thấy”.
Hỏi về những hoạt động từ khi đến Pháp, Nguyễn Ái Quốc
trả lời:
“Ngoài việc vận động các thành viên nghị viện, tôi đã tìm
cách nhen nhóm thiện cảm mỗi nơi một chút, trong đó Đảng
Xã hội đã tỏ ra ít thỏa mãn với các biện pháp của Chính phủ
và đã sẵn lòng ủng hộ chúng tôi. Ở Pháp, đó là hy vọng duy
nhất của chúng tôi. Về hoạt động của chúng tôi ở các nước
khác, chính ở nước ông (Mỹ) chúng tôi có nhiều thành công
hơn. Còn ở chỗ khác, ở đâu chúng tôi cũng chỉ gặp khó khăn”.
Nguyễn Ái Quốc tiếp tục trình bày thật cảm động về tình
hình kinh tế, tình trạng giáo dục, đời sống khổ sở của người
An Nam ở Đông Dương. Ông Phan cũng kể rất tỉ mỉ về cuộc
đời gian nan của ông trước mặt Kim Tchong Wen và mọi
người trong hãng thông tấn của ông.
Báo Yi Chê Pao xuất bản ở Thiên Tân, Trung Quốc, ngày 20/9/1919.
In trong sách Thu Trang: Nguyen Ai Quoc à Paris, Pari, 1993, tr.69-70.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.457-458.
10
3
THĂM MỘT CHIẾN SĨ QUỐC TẾ CỘNG SẢN NGUYỄN ÁI QUỐC1
Tại Đông Dương, ảnh hưởng phong trào Găngđi như thế
nào? Tiếng vang, làn sóng của phong trào đó có lan đến đấy
chút nào không? - Tôi hỏi Nguyễn Ái Quốc.
- Không. - Nguyễn Ái Quốc trả lời - Nhân dân An Nam
chúng tôi là những người nông dân bị nhấn chìm trong bóng
đêm hết sức tối tăm. Không một tờ báo nào, không ai hiểu
bây giờ trên thế giới đương diễn ra những gì; đêm tối, thực sự
là đêm tối.
Nguyễn Ái Quốc hiện là người An Nam duy nhất ở
Mátxcơva, đại diện của chủng tộc Mã Lai cổ xưa. Đó là một
thanh niên gầy gò, linh hoạt, mặc cái áo len đan. Đồng chí
nói tiếng Pháp - tiếng của những kẻ áp bức, nhưng mà
những chữ Pháp từ miệng đồng chí Nguyễn Ái Quốc nghe
trầm trầm, lắng xuống như hồi âm của tiếng mẹ đẻ quê
hương đồng chí.
Nguyễn Ái Quốc đã nói đến hai chữ “văn minh” một cách
đầy khinh bỉ. Đồng chí đã đặt chân qua hầu hết các nước thuộc
_______________
1. Bài viết của nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam (B.T).
11
địa trên thế giới, đã tới miền Bắc và miền Trung châu Phi,
đã thấy rất nhiều cảnh đau khổ. Khi nói chuyện, đồng chí
thường hay dùng chữ “anh em”. Anh em của Nguyễn Ái Quốc
ở đây là những người da đen, những người Ấn Độ, những
người Xyri, những người Trung Quốc...
Nguyễn Ái Quốc đã có lần gửi thư tới nhà văn Rơnê
Marăng, người da đen có quốc tịch Pháp, là tác giả cuốn tiểu
thuyết Batuala và đã đặt một câu hỏi một cách thẳng thắn:
“Ông Marăng, ông muốn hay không muốn giúp đỡ công cuộc
giải phóng các nước anh em ở thuộc địa?”. Rơnê Marăng,
người được Viện Hàn lâm Pháp quàng cho một vòng hoa
danh dự, đã trả lời Nguyễn Ái Quốc một cách dè dặt và
quanh co.
- Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam. Những
gia đình như thế ở nước chúng tôi không phải làm việc gì.
Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo,
đồng chí chắc biết Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là
một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử.
Và trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm về “thế giới đại
đồng”. Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba
chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người
da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và
từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp,
muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng
trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy
người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi
xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà
cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế
12
nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài. Thân
phận người An Nam chỉ là thân phận người nông nô. Chúng
tôi bị cấm, không phải chỉ là bị cấm đi du lịch ra nước ngoài
mà cả đi trong nước cũng không được. Đường sắt được xây
dựng với mục đích “chiến lược” riêng. Theo con mắt của bọn
thực dân, chúng tôi chưa đủ trình độ để sử dụng loại đường
này. Tôi lang thang ra bờ biển và tôi đã vượt biển ra nước
ngoài. Năm ấy tôi 19 tuổi. Ở Pháp lúc đó đang có tổng tuyển
cử. Bọn tư sản Pháp đã dùng những thủ đoạn bẩn thỉu nhất
để bôi nhọ lẫn nhau.
Gương mặt Nguyễn Ái Quốc nhăn lại một cách khinh bỉ.
Đôi mắt nặng nề, u ám bỗng bừng lên. Trong đôi mắt mở to,
ứa lệ, anh nhìn về xa xăm:
- Khi bọn Pháp đến cướp nước tôi, những gia đình nền
nếp, gia giáo đã bỏ chạy hết không cộng tác với chúng. Bọn
vô lại quen thói xu nịnh đã chiếm hết nhà cửa và vườn ruộng,
chúng trở nên những tên tư sản mới giàu sụ, và chúng có khả
năng giáo dục con cái theo kiểu Pháp. Bên chúng tôi coi
những người thanh niên đi học các trường dòng của bọn Pháp
là bọn người bỏ đi, là những đồ cặn bã. Thế mà người ta đã
trả tiền để làm việc đó. Và dù những kẻ học ở các trường đó
có đần độn đến mức nào chúng cũng cố để được đi làm cảnh
sát, làm sen đầm. Bọn cố đạo ở nước tôi chiếm tới một phần
năm tổng số ruộng đất cả nước. Chỉ có những chủ đồn điền
mới so sánh được với họ.
Thực dân Pháp là gì? Ồ, đó là những kẻ bất tài và thiển
cận. Việc quan tâm đầu tiên của chúng là hình thành nhóm
người thân thuộc. Sau đó, là chiếm đoạt và cướp bóc thế nào
13
cho thật nhiều và thật nhanh. Mục đích của toàn bộ chính
sách này là có được một ngôi nhà nhỏ, “ngôi nhà nhỏ của
mình” ở Pháp.
- Thực dân Pháp đầu độc nhân dân chúng tôi. Chúng bắt
mọi người phải uống rượu. Chúng tôi có phong tục lấy gạo
ngon làm ra rượu uống, khi có bạn tới chơi hoặc khi có ngày
giỗ tổ tiên. Bọn thực dân Pháp đã lấy gạo xấu, rẻ tiền nấu
rượu. Không ai thèm mua của chúng. Khốn thay rượu làm ra
lại quá nhiều. Sau đó, người ta hạ lệnh cho các viên tỉnh
trưởng cứ theo đầu người mà bắt buộc phải đi mua thứ rượu
không ai uống.
Tôi đã hình dung ra được một cách rất cụ thể bọn thực
dân đang dùng rượu đầu độc như thế nào dân tộc An Nam
đáng yêu, một dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét
những gì thái quá. Dáng dấp của con người đang ngồi trước
mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì
thật lịch thiệp và tế nhị. Văn minh châu Âu trên đất nước ấy
dùng lưỡi lê và rượu độc và che giấu tất cả những cái đó dưới
tà áo dài đen của bọn cố đạo. Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra
một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là
một nền văn hóa tương lai.
- Hiện nay, ở Pari, một nhóm các đồng chí từ các nước thuộc
địa của Pháp, 5-6 người Nam Kỳ, Xuđăng, Mađagátxca, Haiti
đang xuất bản tờ báo Le Paria để chống lại chính sách thuộc
địa của Pháp. Đó là tờ báo nhỏ. Các cộng tác viên phải bỏ tiền
túi ra để xuất bản, thay cho việc nhận tiền nhuận bút.
Cây gậy tre với lời hiệu triệu in trên báo đã bí mật đến
khắp các làng mạc. Nó được chuyển từ vùng này sang vùng
14
khác, và đã có sự đồng tình với nhau. Nhưng người An Nam
đã phải trả giá đắt cho việc đó, đã có những án tử hình và
hàng trăm người đã bị mất đầu.
- Người dân An Nam không có linh mục, không có tôn
giáo, theo cách nghĩ của châu Âu. Việc cúng bái tổ tiên hoàn
toàn là một hiện tượng xã hội. Chúng tôi không có những
người tư tế nào. Những người già trong gia đình hay các già
bản là người thực hiện những nghi lễ tưởng niệm. Chúng tôi
không biết uy tín của người thầy cúng, của linh mục là gì.
- Vâng, thật thú vị là chính quyền Pháp đã dạy cho
những người nông dân chúng tôi biết những từ “bônsêvích”
và “Lênin”. Chúng lùng bắt những người cộng sản trong dân
chúng, trong khi chẳng có người cộng sản nào, hoàn toàn
không có ngay cả trong ý niệm, và như vậy chính chúng đã
tuyên truyền cho chủ nghĩa bônsêvích và Lênin.
Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua
phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn
Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên
tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới.
Trên bàn có một tập bản thảo, một bản báo cáo công tác
rõ ràng, mang phong cách truyền tin của phóng viên. Anh
đang tưởng tượng đến đề tài: Đại hội Quốc tế Cộng sản năm
1947. Anh như đang nhìn thấy, nghe thấy diễn biến của hội
nghị, mà ở đó anh sẽ điều khiển chương trình nghị sự.
Lúc chia tay, Nguyễn Ái Quốc như nhớ điều gì.
- Vâng, chúng tôi còn có một cuộc “nổi dậy” nữa do Vua
An Nam trẻ tuổi Duy Tân phát động, chống lại việc đưa
những người nông dân của chúng tôi đến chiến trường của
15
Pháp. Vua Duy Tân đã chạy, bây giờ ông ấy đang sống lưu
vong. Hãy kể về ông ấy nữa.
Ô. MANĐENXTAM
Báo Ogoniok (Liên Xô), số 39, ngày 23/12/1923.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.460-464.
16
4
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA PHÓNG VIÊN BÁO
L'UNITÀ1
...
Tôi hỏi anh ở đâu đến.
- Tôi là người An Nam - bị Pháp cai trị, học sinh Trường
đại học Phương Đông ở Mátxcơva. Tôi tên là Nguyễn Ái Quốc.
- Anh kể cho nghe về đời học sinh được không?
- Được...
Trong nước, tôi lao động ở nông thôn, tôi rời Tổ quốc tôi
cách đây ba năm2.
- Tại sao anh lại sang châu Âu?
- Trước đây tôi có đọc một số tờ báo phát hành sang nước
_______________
1. Trả lời phỏng vấn của phóng viên Giôvanni Giécmanéttô, đăng
trên báo L'Unità của Đảng Cộng sản Italia từ năm 1924. Năm 1973, đồng
chí Rendô Máctineli, đảng viên Đảng Cộng sản Italia đã tìm thấy bài báo
này. Bài báo đã được đăng lại trên tờ Rinasitta, cơ quan lý luận của Đảng
Cộng sản Italia (B.T).
2. Nguyễn Ái Quốc rời Tổ quốc đã 13 năm, tức là từ năm 1911 (B.T).
17
tôi, một vài tờ có tính chống đối ở An Nam, có những người
lính lê dương do Poăngcarê gửi sang để cải huấn. Những
người lính lê dương này đọc đủ thứ. Họ là những kẻ chống
đối về bản chất. Họ cho tôi đọc các báo Pháp. Vì thế tôi nảy
ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao và tôi đã tới Pari. Khi
Trường đại học Phương Đông ở Mátxcơva mở, tôi bèn xin học.
- Trường có đông học sinh không?
- Tất cả có 1.025 người học thuộc 62 xứ thuộc địa trong
đó có 150 gái, 895 vào đảng cộng sản. Trong số 1.025 người
học 547 là nông dân, khoảng 300 là công nhân, còn là trí
thức tư sản.
- Anh nghĩ thế nào về sáng kiến bônsêvích này?
- Tôi rất phấn khởi đối với sáng kiến này. Tôi đã đọc
nhiều tuyên bố ủng hộ và đoàn kết của những người chống
đối nhưng không người nào đem lại cho chúng tôi một sự
giúp đỡ thiết thực để thoát khỏi chế độ nô lệ mà những
“người đi gieo rắc văn minh” đang giam hãm chúng tôi. Tôi
cho rằng sáng kiến này sẽ đem lại những kết quả rất tốt.
Nhiều người đã hiểu tình trạng kém cỏi của chúng tôi
nhưng chưa có ai, trừ những người làm cách mạng Nga, chỉ
cho chúng tôi con đường đi đến giải phóng. Ở Bacu, năm
1921, lần đầu tiên trong lịch sử của giai cấp vô sản, đã họp
một đại hội của các dân tộc phương Đông và chính Lênin,
đồng chí Ilítsơ thân mến của chúng tôi, đã nêu lên những
đề án và hướng dẫn chúng tôi đi những bước đầu để làm
cho chúng tôi có khả năng cùng tiến bước với giai cấp vô
sản thế giới.
18
- Tay anh làm sao thế?
- Không sao, anh trả lời. Tôi mang vòng hoa của học
sinh viếng Lênin, vì thế hai ngón tay tôi bị tê cóng. Lênin
thương tiếc!
- Các anh có bao nhiêu giáo sư? Chương trình có những
môn gì?
- Chúng tôi có 150 giáo sư dạy các môn: khoa học xã hội,
toán, duy vật lịch sử, lịch sử phong trào công nhân, khoa học
tự nhiên, lịch sử cách mạng, kinh tế chính trị học, v.v..
Trường đại học có một phòng chiếu bóng, một thư viện
47.000 cuốn sách. Mỗi dân tộc có một thư viện riêng gồm
sách, báo, tạp chí. Nên biết là chúng tôi thuộc 62 dân tộc mà
đoàn kết với nhau như anh em ruột thịt. Người học tự viết
lấy báo hằng tuần. Chúng tôi có một nhà an dưỡng ở Crimê
và hai nhà nghỉ hè, một trong hai nhà đó trước cách mạng là
lâu đài của một Quận công.
Anh hãy hình dung là ở trên đỉnh ngọn tháp của lâu đài,
gần con quạ, biểu tượng của đế chế, phấp phới lá cờ đỏ và ở
trong phòng khách, thay vào ngài Quận công, là những người
nông dân Triều Tiên hoặc Ácmêni nô đùa với nhau.
- Ai nấu cho các anh ăn?
- Chúng tôi thay phiên nhau làm bếp. Chúng tôi cũng
thay phiên nhau làm việc ở thư viện, ở câu lạc bộ, giặt giũ.
Chúng tôi tổ chức thành công xã. Công xã họp một tuần một
lần để thảo luận chính trị, và tổ chức các buổi biểu diễn nghệ
thuật, giải trí. Những sự sai phạm sẽ do một “toà án”, do
công xã bầu ra nếu thấy cần thiết, xét xử.
19
- Khi học xong, anh dự định làm gì?
- Dĩ nhiên là tôi sẽ trở về Tổ quốc tôi để đấu tranh cho sự
nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm
lắm. Chúng tôi chẳng có quyền gì cả, trừ quyền đóng thuế
cho “mẫu quốc” Pháp, cho bọn chủ bản xứ. Sự việc nổi bật
nhất là như thế này: chúng tôi là những người bị đô hộ, như
đồng chí biết, chúng tôi là những dân tộc “hạ đẳng”, và vì thế
chúng tôi không có quyền ứng cử, bầu cử. Ở nước Nga, ở cái
nước của những người dã man - giai cấp tư sản dân chủ gọi
các đồng chí Nga như thế -, chúng tôi có đầy đủ những quyền
như công dân Nga. Thật vậy, những đại biểu của chúng tôi
do Xôviết của chúng tôi bầu ra theo đúng kỳ hạn, đã cùng hội
họp với các đại biểu công, nông, binh. Đó, anh đã thấy rõ sự
đối xử khác nhau của chế độ dân chủ tư sản và chế độ dân
chủ công nhân đối với chúng tôi!
Chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau
khổ nữa. Những người “khai hóa” các nước chúng tôi không
để chúng tôi tự do. Nhưng chúng tôi tiếp tục đi theo con
đường Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận
dụng vào thực tiễn những bài học đã học được. Các đồng chí
của tôi làm việc phấn khởi, tin tưởng, nghiêm túc. Nhiều
người còn rất trẻ đã có một trình độ mácxít ít có thể tưởng
tượng là có thể có được vào tuổi đó. Chúng tôi hiểu rõ là
chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề, và tương lai của các
dân tộc thuộc địa tùy thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần
hy sinh của chúng tôi.
Ở phương Đông, từ Xyri đến Triều Tiên tôi chỉ nói các
nước thuộc địa và nửa thuộc địa, có một diện tích rộng mênh
20
mông với hơn 1.200 triệu dân. Cả vùng rộng lớn này nằm
dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc tư bản chủ nghĩa.
Các dân tộc ở đó không bao giờ có thể ngẩng đầu lên được
nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới. Những nghị
quyết của phái xã hội dân chủ tỏ cảm tình dù nồng nhiệt đến
đâu cũng không có sức nặng.
Việc thành lập trường đại học bônsơvích đã mở ra một
thời đại mới trong lịch sử các dân tộc thuộc địa ở phương
Đông, và nhà trường đã dạy chúng tôi nguyên lý đấu tranh
giai cấp, và nhà trường đã đặt mối liên hệ giữa chúng tôi với
các dân tộc phương Tây và trang bị cho chúng tôi - những
người nô lệ, khả năng hoạt động chặt chẽ.
- Khí hậu nước Nga thế nào, có cực lắm không?
- Có... Tôi chưa quen tuy đã ở hai năm. Nhưng không sao,
tôi sẽ khắc phục được.
Tôi đi thăm một công xã nông nghiệp. Thôi chào anh.
Báo L'Unità, ngày 15/3/1924.
Báo Nhân dân, số 6961, ngày 18/5/1973.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.465-468.
21
5
TRẢ LỜI CÁC NHÀ BÁO VỀ THÁI ĐỘ HIỆN THỜI
CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐỐI VỚI
TRUNG HOA VÀ PHÁP
Đối với Trung Hoa: Trung Hoa và Việt Nam có quan hệ
mấy ngàn năm với nhau về mọi phương diện văn hóa, chính
trị, kinh tế. Quan hệ ấy càng ngày càng thêm sâu xa, mà có
thể càng ngày càng thêm mật thiết.
Nước Việt Nam được thắng lợi trong sự độc lập, thì sự
thắng lợi ấy sẽ là một điều lợi cho Trung Hoa. Trung Hoa và
Việt Nam có chung với nhau một biên giới rộng mấy ngàn
dặm. Nay Việt Nam không phải là một thuộc địa của Pháp
nữa, nước Trung Hoa sẽ bớt đi một lo ngại về miền Nam, vì
trong dự định của một vài chính khách Pháp như P. Đume
chẳng hạn, thì bọn thực dân Pháp vẫn ngấm ngầm định
nhòm ngó mấy tỉnh trù phú miền Nam Trung Hoa như Vân
Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. Trung Hoa và Việt Nam có
quan hệ như răng với môi vậy.
Về một phương diện khác, nước Trung Hoa bao lâu nay bị
khốn khổ vì các điều ước bất bình đẳng, hẳn đã biết những
thống khổ của một dân tộc bị áp bức. Chính Tưởng Chủ tịch
cũng đã nói thế trong cuốn Trung Quốc vận mệnh. Lẽ tất
22
nhiên đối với nền độc lập Việt Nam, nước Trung Hoa phải
sẵn có cảm tình.
Nước Trung Hoa đã giúp đỡ gì chúng ta chưa? Về vật chất
chưa giúp gì, nhưng về phần tinh thần có thể nói là đã giúp
rồi vậy. Cuộc kháng chiến anh dũng của dân Trung Hoa
trong 8, 9 năm trời chống phát xít Nhật đã làm cho chúng ta
thêm tự tin ở mình, ở sự thắng lợi của cuộc chiến đấu của ta
bây giờ với quân xâm lược Pháp trong Nam Bộ. Nhật gần
Trung Hoa hơn Pháp gần nước ta nhiều, sức mạnh quân sự
của Nhật lại hơn hẳn quân Pháp bao nhiêu bực. Vậy mà cuối
cùng, dân tộc Trung Hoa đã đánh bại được Nhật. Tại sao
chúng ta lại sẽ không đánh bại được Pháp?
Chính sách của Việt Nam đối với Trung Hoa, lúc này tóm
lại là phải thân thiện.
Còn như trong buổi tiếp xúc đầu tiên này có những
chuyện khó khăn xảy ra (như việc tiêu tiền quan kim1, việc
xung đột thường ngày vì không hiểu ngôn ngữ nhau, v.v.)
thì đó là những chuyện không thể tránh được. Để giải quyết
những chuyện ấy, không những chỉ Chính phủ mà cả các
nhà đương chức Trung Hoa ở đây cũng tận tâm giải quyết
ổn thỏa. Dân ta lúc này bị điêu đứng về những chuyện ấy,
thì phải nhớ đến câu: Muốn gánh được nặng, phải chịu được
khó nhọc.
Đối với Pháp: Đối với bọn thực dân Pháp cố tâm dùng võ
lực lập lại chủ quyền của chúng ở đây, chúng ta nhất định
chống lại chúng kỳ cùng, và nhất định chúng ta sẽ phải
_______________
1. Một loại tiền Trung Quốc lúc bấy giờ (B.T).
23
thắng lợi. Sự hy sinh của đồng bào ta trong cuộc chiến đấu
oanh liệt trong Nam Bộ bây giờ, cử chỉ phi thường của một
chiến sĩ tự tẩm dầu xăng vào mình để vào đốt một kho dầu
của bên địch, tỏ ra rằng một dân tộc đã có tinh thần cao đến
bực ấy thì không sức mạnh nào có thể đè bẹp được.
Nhưng chúng ta không chống tất cả nước Pháp, tất cả
dân chúng Pháp. Nếu có những người Pháp muốn qua đây
điều đình một cách hòa bình (từ trước tới nay chưa có một
cuộc điều đình như vậy, nhưng giả sử có, lẽ tất nhiên chúng
ta sẽ hoan nghênh) thì điều kiện căn bản của cuộc điều đình
ấy là người Pháp phải thừa nhận nền độc lập của Việt Nam.
Còn ngoài ra có thể có những sự thương lượng để dung hòa
quyền lợi của cả hai bên. Có thể rằng: Những cơ sở mà người
Pháp đã bỏ vốn ra gây dựng ở đây từ trước đến giờ, nếu xét
ra cần thiết cho nền kinh tế quốc gia Việt Nam, sẽ được
chúng ta chuộc lại dần dần. Có thể rằng: Chúng ta hoan
nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai
thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể
rằng: Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng
như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong
cuộc kiến thiết quốc gia.
Nhưng, phải nhắc lại rằng, điều kiện chính vẫn là họ
phải thừa nhận nền độc lập của xứ này. Nếu không vậy, thì
không thể nói chuyện gì được cả.
Báo Cứu quốc, số 74, ngày 23/10/1945.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.84-86.
24
6
TRẢ LỜI CÁC NHÀ BÁO VỀ LỜI TUYÊN BỐ MỚI
ĐÂY CỦA TỔNG THỐNG MỸ TƠRUMAN
Cứ xét 12 điểm chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ này, thì
đều có ý nghĩa công minh chính trực cả, nhưng riêng năm điểm
có quan hệ mật thiết với các dân tộc nhược tiểu trên thế giới.
Điểm thứ nhất: “Hoa Kỳ không nghĩ tới một sự mở mang bờ
cõi nào vì những mục đích ích kỷ”. Về điều này từ trước đến nay
dân tộc Việt Nam đã hiểu rõ cái chính sách quang minh của Mỹ,
nhất là từ ngày Mỹ thừa nhận Phi Luật Tân độc lập thì dân Việt
Nam càng tin tưởng cái chính sách rộng rãi của Mỹ.
Điểm thứ hai: “Hoa Kỳ tin tưởng vào sự trở lại chủ quyền
của hết thảy các dân tộc đã mất chủ quyền ấy bởi cường lực”.
Nước Việt Nam là một trong những nước đã bị mất chủ quyền
bởi cường lực của Pháp. Và dân Việt Nam đã giành lại cái chủ
quyền ấy không những ở tay Pháp mà cả ở tay Nhật nữa. Sự tin
tưởng của Mỹ đã thành một sự thực ở Việt Nam, sự tin tưởng
của Mỹ càng giúp cho sự thực ấy thêm vững vàng.
Điểm thứ ba: “Hoa Kỳ không ưng thuận một sự thay đổi
lãnh thổ nào mà không được chính các dân tộc đương sự thỏa
thuận”. Về điều này, dân Việt Nam đã đoàn kết nhất trí
không bằng lòng bọn thực dân Pháp trở lại. Trong Nam Bộ
đã bắt đầu kháng chiến và toàn quốc sẽ cương quyết kháng
25
chiến đến cùng, không để bọn thực dân Pháp trở lại. Dân
chúng Ai Lao1 và Cao Miên2 cũng vậy. Toàn thể các dân tộc
Đông Dương đều kịch liệt phản đối thực dân Pháp.
Điểm thứ tư: “Tất cả các dân tộc đương chuẩn bị tự trị
được tự chọn lấy chính thể của họ”. Dân tộc Việt Nam chẳng
những chuẩn bị mà đã thực hành tự trị, đã có Chính phủ
theo chế độ dân chủ cộng hòa và đang sửa soạn triệu tập
toàn quốc đại hội để thông qua hiến pháp dân chủ cộng hòa.
Điểm thứ năm: “Không một chính phủ nào thành lập
bằng sự áp bức, bằng vũ lực trên một dân tộc khác, lại sẽ
được Hoa Kỳ thừa nhận cả”.
Hiện giờ bọn thực dân Pháp đương áp bức dân tộc Việt
Nam bằng võ lực để mưu lập lại cái chế độ nô lệ của họ trên
đất Việt Nam. Bọn thực dân Pháp lại cho vấn đề này là vấn đề
nội bộ của họ, kỳ thực nó là một vấn đề quốc tế, vì từ năm
1940 Pháp đã thành tay sai của Nhật và đến tháng 3 năm
1945 Pháp đã trao hoàn toàn chủ quyền cho Nhật. Chẳng
những thế, bọn thực dân Pháp đã giúp cho Nhật tấn công vào
Trân Châu Cảng (Pearl Habour)3, vì chính ngày hôm ấy, bọn
_______________
1. Lào (B.T).
2. Campuchia (B.T).
3. Trận Trân Châu cảng: Trận đánh mở đầu chiến tranh Thái Bình
Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Ngày 7/12/1941, Nhật không tuyên chiến, bất ngờ tấn công hạm đội
Mỹ ở cửa biển Trân Châu (Pearl Habour), căn cứ quân sự của Mỹ ở quần
đảo Haoai. Mỹ cho rằng Nhật sẽ tấn công Liên Xô nên thiếu sự đề phòng
và đã bị thiệt hại nặng nề. Đây là sự kiện chưa từng có trong lịch sử
chiến tranh hải quân. Hai ngày sau, ở ngoài khơi Mã Lai, thiết giáp hạm
Prince of Wales và tuần dương hạm Repulse của Anh cũng bị Nhật đánh
đắm. Sau đó, phe Đức - Ý - Nhật tuyên chiến với Mỹ. Cuộc Chiến tranh
thế giới thứ hai lan ra khắp thế giới.
26
thực dân Pháp ở Việt Nam đã ký điều ước bí mật để cho Nhật
đủ điều kiện gây chiến với Mỹ làm cho Mỹ tổn thiệt rất nhiều.
Vì những lẽ đó, nhân dân Việt Nam đối với lời tuyên bố
của Tổng thống Tơruman rất hoan nghênh và chắc rằng nước
Mỹ sẽ làm cho những lời tuyên bố ấy thực hiện ngay, nó đặt
nền móng cho hòa bình và hạnh phúc của nhân loại và trước
hết là cho các dân tộc nhỏ yếu.
Báo Cứu quốc, số 81, ngày 2/11/1945.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.94-95.
27
7
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA PHÓNG VIÊN
CÁC BÁO VỀ VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT1
Hỏi: Thưa Cụ, 14 điều trong báo “Việt Nam” đăng có
đúng không?
Trả lời: Đúng, nhưng phải thêm một điều nữa là đôi bên
đã đồng ý với nhau chưa nên công bố, không hiểu sao báo
Việt Nam lại đăng hết. Có lẽ báo ấy quên chăng?
Hỏi: Thưa Cụ, báo “Liên hiệp” đăng Chính phủ Việt Minh
từ chức là nghĩa gì?
Trả lời: Làm gì có Chính phủ Việt Minh, mà đã không có
thì từ chức làm sao?
Hỏi: Sao chưa cho các báo khác đăng 14 điều ấy?
Trả lời: Chưa đến lúc phát biểu. Về chính trị, thời gian
cũng quan trọng.
_______________
1. Ngày 24/12/1945, Việt Minh, Việt Nam Cách mạng Đồng minh và
Việt Nam Quốc dân Đảng đã ký kết văn bản thỏa thuận hợp tác nhằm
tăng cường sự đoàn kết, củng cố mặt trận liên hiệp quốc dân để tập trung
lực lượng vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Theo thỏa thuận
chung, văn bản này không công bố. Nhưng báo Việt Nam, cơ quan ngôn
luận của Việt Nam Quốc dân Đảng đã công bố (Xem phần Phụ lục in
trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.577-579) (B.T).
28
Hỏi: Cụ cho biết điều thứ 13 mà báo Việt Nam không
đăng? (Chủ tịch Hồ Chí Minh cười có ý bảo không nên nói
đến con số 13).
Hỏi: Chính phủ cũ lấy thêm những vị nào để thành lập
Chính phủ liên hiệp lâm thời?
Trả lời: Có cụ Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch, một
ông Bộ trưởng Vệ sinh (Y tế) và một ông Bộ trưởng Kinh tế.
Ông Nguyễn Mạnh Hà (người không đảng phái) đã tự
nhường xuống làm Thứ trưởng để tỏ lòng thành thực đoàn
kết của Chính phủ hiện thời.
Hỏi: Chính phủ liên hiệp lâm thời sẽ thành lập từ bao giờ
và tồn tại đến bao giờ?
Trả lời: Từ mồng 1 tháng Giêng đến mồng 6 tháng Giêng
dương lịch1.
Hỏi: Sao hai Bộ Quốc phòng và Nội vụ lại để cho người
không đảng phái?
Trả lời: Trước bàn: Nếu một bên giữ Bộ Quốc phòng thì
m...
 





