Tố Hữu - người cộng sản kiên trung, nhà văn hóa tài năng
Tội Ác Trên Thiên Đường Mật - Nhiều Tác Giả

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:55' 22-03-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:55' 22-03-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Tội Ác Trên Thiên Đường Mật
TẬP TRUYỆN NGẮN
KHOA HỌC VIỄN TƯỞNG LIÊN XÔ
NHÀ XUẤT BẢN TÁC PHẨM MỚI
HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM – 1985
LỜI GIỚI THIỆU
I
Xem xét quá trình phát triển của văn học xưa nay, người ta
vẫn thấy có những tác phẩm trong đó những yếu tố của hiện
thực được phối hợp một cách đặc biệt, không theo những
nguyên tắc sẵn có của đời sống mà theo một cách riêng, từ đó
tạo ra những khung cảnh “quái đản”, những con người kỳ dị và
đủ các chuyện lạ khác. Ví dụ rất nhiều, từ những bóng ma trong
kịch Shakespeare, những người khổng lồ và người tí hon trong J.
Swift, qua các nhân vật trong Gargantua và Pantagruel của
Rabelais, một số truyện của Voltaire, truyện ngắn của
Ho mann ở Đức, E. Poe ở Mỹ v.v... Ở phương Đông có Truyền kỳ
mạn lục của Nguyễn Dữ, Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, v.v...
Mượn cái không thể có để biểu hiện cái có thể có trong đời
sống, đấy chính là một hình thức nhận thức: nhận thức thông
qua lạ hóa.
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học kỹ thuật, lại thấy nảy nở một loại truyện có sắc
thái mới: hoặc là dự đoán những thành tựu khoa học mà một
thời gian sau loài người mới đạt tới (việc sáng chế các loại máy
móc mới, việc sử dụng năng lượng mặt trời, nhờ sự trợ giúp của
một chất bán dẫn nào đó, v.v...); hoặc kể về một số hiện tượng xã
hội kỳ lạ, sẽ xảy ra trong tương lai.
Cũng từ đây, danh từ khoa học viễn tưởng ra đời. Hai tác giả
thuộc loại cổ điển ở thể văn này là Jules Verne (1825-1905) với
các tác phẩm như Cuộc du lịch của đại úy Hatteras, Hòn đảo bí
mật, Tám vạn dặm dưới biển, và Herbert Wells (1866-1946), tác
giả Người vô hình, Cuộc chiến tranh giữa các thế giới, v.v... Jules
Verne là người đầu tiên hiểu rằng thế giới sẽ chịu ảnh hưởng của
kỹ thuật. Ông ý thức được rằng trên trái đất dần dần và nhất
định sẽ có nhiều máy móc. Còn tiểu thuyết của Wells, theo cách
nói của nhà văn Soviet Olessa, chính là những thần thoại của
thời đại mới, những thần thoại kể về máy móc và con người giữa
những máy móc. Tên tuổi của hai ông, gắn liền với hai dòng
chính mà đến nay người ta còn thấy trong truyện khoa học viễn
tưởng.
Tuy nhiên, chỉ từ đại chiến thế giới thứ hai trở lại đây, loại
truyện này mới trở thành hiện tượng bùng nổ mạnh mẽ ở nhiều
nước.
Số nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng rất đông. Riêng
ở Mỹ, theo một con số thống kê năm 1967, số nhà văn loại này
đã lên tới ba bốn trăm người, trong đó ba bốn chục người rất ăn
khách, tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng khác.
Có những nhà xuất bản, những tạp chí chuyên môn in các
loại truyện khoa học viễn tưởng.
Có những giải thưởng dành tặng cho các tác phẩm xuất sắc
hàng năm. Có những câu lạc bộ khoa học viễn tưởng hoạt động
với thư viện riêng, ngân sách riêng, v.v...
Ở Anh, Pháp, Ý, Nhật, các nước Bắc Âu, cũng như ở các nước
xã hội chủ nghĩa, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Cộng hòa Dân chủ
Đức, v.v... khoa học viễn tưởng đã trở thành một “phân xưởng”
không thể thiếu trong guồng máy văn học. Giữa nước nọ nước
kia, việc dịch in và phổ biến những tác phẩm mới ra đời được
xúc tiến hết sức nhanh chóng.
Tại sao khoa học viễn tưởng phát triển mạnh như vậy? Trên
nét lớn, có thể cắt nghĩa bằng một lý do giản dị:
Từ nhiều thế kỷ nay, câu hỏi tương lai loài người, tương lai
thế giới ra sao, vẫn là câu hỏi trở đi trở lại trong tâm trí nhiều
người, thuộc nhiều thế hệ.
Đến thời đại chúng ta, câu hỏi trên càng có sức ám ảnh. Mặc
dù khoa học có giúp cho người ta giải đáp một số vấn đề, nhưng
nhiều vấn đề khác – mà lại là những vấn đề chính yếu – vẫn nằm
ngoài tầm tay, do đó, càng thu hút sự chú ý của nhiều người:
– Máy móc được chế tạo thêm, sản phẩm làm ra nhiều hơn,
điều kiện đời sống thuận tiện hơn, có phải bao giờ cũng tốt đẹp,
hay nó sẽ phá vỡ sự cân bằng và những mối quan hệ vốn có của
xã hội?
– Người máy, và những máy móc siêu đẳng khác, do con
người chế tạo ra, có thay thế được cho con người? Trong xã hội
kỹ thuật phát triển đó, vai trò của con người nên được hình
dung ra sao?
– Những tìm tòi của con người vào khoảng không vũ trụ và
cuộc tấn công vào thế giới chung quanh nói chung sẽ mở ra
không cùng, hay có những giới hạn của nó?
– Cùng với mọi biến đổi trong khoa học kỹ thuật, bản thân
con người và xã hội loài người sẽ thay đổi theo hướng nào? Đặc
biệt đời sống tinh thần của con người sẽ giàu có hơn hay nghèo
nàn đi? Những sự tha hóa nào cần được đề phòng?
V.v... và v.v...
Những câu hỏi trên và nhiều câu hỏi tương tự khác, liên tiếp
được đặt ra.
Một mặt, các nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng, phần
lớn là những người rất thông thạo các vấn đề khoa học kỹ thuật
hiện đại (một số trong họ là những nhà khoa học thực thụ, viết
khoa học viễn tưởng như một “nghề tay trái”), nên họ cùng
tham gia dự đoán như mọi người.
Mặt khác, như chúng ta thấy, trước sau những người được
dư luận công nhận vẫn là những nhà văn nặng lòng trắc ẩn và
hết sức nhạy cảm. Trong khi phóng trí tưởng tượng về phía
trước, họ thường chia sẻ với chúng ta những lo âu, để rồi, vượt
qua những lo âu đó, đạt đến một cái nhìn lạc quan chân chính.
Rất tự hào về nghề nghiệp của mình, A. Asimov, một nhà
viết truyện khoa học nổi tiếng đồng thời là một nhà bác học
người Mỹ cho rằng: “Yêu khoa học viễn tưởng có nghĩa là quan
tâm tới tương lai nhân loại, và ở mức độ nào đó, là yêu tất cả mọi
người, muốn cho mọi người hạnh phúc”.
Bradbury, một nhà văn Mỹ khác bổ sung: “Suy cho cùng, chỉ
những ai không hài lòng với xã hội hôm nay và biết biểu lộ sự
không hài lòng đó một cách mạnh mẽ, người đó mới xây dựng
được những truyện khoa học viễn tưởng có giá trị”.
Theo cách nói của nhà văn Bungari I. Virusev, khoa học viễn
tưởng nảy sinh để giúp cho loài người hình dung ra “cái độ cao
đến chóng mặt” mà chúng ta đã đạt tới trong lĩnh vực khoa học
kỹ thuật. Thoạt đầu, qua khoa học viễn tưởng, người ta thấy
toát ra một niềm kiêu hãnh chính đáng; rồi sau đó, một nỗi lo
lắng không kém phần gớm ghê; cả niềm kiêu hãnh lẫn nỗi lo
lắng kia gắn liền với sự phát triển của kỹ thuật. Bởi vậy, ông kết
luận, – “khoa học viễn tưởng giúp tôi viết về con người tương
lai, những người sống trong thế kỷ siêu kỹ thuật, nhưng không
bao giờ nguôi quên cái khao khát chính đáng là làm chủ thế
giới”.
Nghiên cứu sáng tác của các đồng nghiệp khác và từ sáng
tác của bản thân, nhà văn Cộng hòa Dân chủ Đức là C. Krupcat
đi tới kết luận: “Trí tưởng tượng của người ta thật không biết
đâu là cùng. Trong toàn bộ vẻ đa dạng của nó, thế giới là vô hạn.
Nhưng người ta có thể nhận thức được thế giới đó”. Ông chọn
con đường trở thành nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng
với mục đích sáng rõ “mở ra cho con người thấy cả thế giới bao
la của tính nhân đạo”, tức giúp cho họ thêm kiêu hãnh làm
người.
Từ chỗ mải mê đi vào dự đoán các máy móc sẽ được chế tạo,
các nguồn năng lượng sẽ được đưa vào sử dụng, từ chỗ say sưa
với thế giới của những hành tinh chưa từng có dấu vết sự sống,
gần đây khoa học viễn tưởng bắt đầu có thêm những hướng đi
mới. Một số tác giả chú ý nhiều hơn đến những đổi mới sẽ xảy ra
trong sinh học, y học; một số kiên trì đi vào thế giới nội tâm của
con người, tìm cách phát hiện ra ở đó tất cả những gì lạ lùng kỳ
dị, và cố nhiên chúng ta còn biết rất ít, nhất là khi đặt nó vào
khung cảnh của những biến đổi kỹ thuật sẽ xảy tới trong tương
lai. Một ngành khoa học viễn tưởng mới bắt đầu xuất hiện: khoa
học viễn tưởng có tính triết học và tâm lý sâu sắc. Nó khiến cho
thể văn này khắc phục được một nhược điểm người ta vẫn chế
giễu là chỉ đi vào những khía cạnh li kỳ của sự tìm tòi mà thiếu
khả năng đề cập những chuyện gần gũi với đời sống bên trong
của con người. Nhiều nhà văn vốn nổi tiếng ở các khu vực khác
nay cũng viết khoa học viễn tưởng. K. Sapeil ở Tiệp (người lần
đầu tiên nói đến người máy – robot). A. Maurois, Vecco ở Pháp,
Kobo Abe ở Nhật, Dürrenmatt ở Thụy Sĩ, v.v... Với sự tham gia
của các cây bút bậc thầy này, chất văn học trong khoa học viễn
tưởng được triển khai trên nhiều bình diện mới. Một nhà văn
Rumani là I. Habana tuyên bố, “khoa học viễn tưởng là một
công cụ vô giá trong công cuộc nghiên cứu tâm lý”. Ông nêu ra
một nhận xét được nhiều người đồng tình: “Đối với nhà văn,
không gì khó hơn và thú vị hơn là đoán ra cảm xúc, và nói
chung, đoán ra phản ứng tâm lý của những con người tương lai,
dự báo những mâu thuẫn mà chỉ tương lai mới có”.
II
Trên nét lớn, những nhận xét vừa nêu ở trên với truyện
khoa học viễn tưởng nói chung cũng đúng với sự phát triển của
thể tài này ở một nền văn học chúng ta từng đã quen biết, là văn
học Soviet.
Với các sáng tác như Con đầm pích của Puskin, Cái mũi của
Gogol, và nhiều truyện ngắn, truyện vừa của A. Kuprin, văn học
Nga thế kỷ thứ XIX từng biết tới một dạng tư duy văn học, đặc
biệt là lối phản ánh đời sống qua những hình ảnh quái lạ, những
biến dạng kỳ dị, và nói chung là phản ánh theo lối ước lệ, nhưng
lại làm nổi bật bản chất của đời sống. Về một phương diện khác,
trong những công trình nghiên cứu và phổ biến khoa học của
một người như C. Tsiolkovsky, cũng thấy đưa ra nhiều dự án cho
các máy móc sẽ được phát triển trong tương lai. Qua đầu thế kỷ
XX, người đi đầu trong lĩnh vực khoa học viễn tưởng ở Nga,
không ai khác hơn nhà văn Alexey Tolstoy. Trong các cuốn tiểu
thuyết Hyperboloid và chiếc đèn chiếu của kỹ sư Garin, nếu bạn
đọc trẻ tuổi thấy thú vị trước những hình tượng lãng mạn, thì
những người từng trải lại nhận ra được ở đó những mâu thuẫn
xã hội sâu sắc, và bởi vậy, các thiên truyện đó của A. Tolstoy vừa
hấp dẫn, vừa có giá trị. Các nhà văn viết truyện khoa học viễn
tưởng ở Liên Xô hiện nay thường vẫn tự hào là ngay từ đầu, thể
tài này đã được các nhà văn chân chính mở đường.
Nhà văn Soviet đầu tiên dành tất cả tài năng cho khoa học
viễn tưởng là A. R. Belyaev (1884-1942). Trong những tác phẩm
như Cái đầu của giáo sư Dowell, Đảo của những thuyền đắm,
Người cá, v.v... Belyaev thường nói về các vấn đề khoa học trong
tương lai, nhất là những đổi mới trong sinh học, y học.
Nếu từ khoảng những năm ba mươi, cho tới nửa đầu những
năm 50, sự phát triển của khoa học viễn tưởng ở Liên Xô có
phần hạn chế trong lĩnh vực phổ biến những cái mới trong khoa
học, tức là tự trói buộc trong những “mục đích gần”, thì sau đó,
từ cuối những năm 50, nó sẽ có những đổi mới rõ rệt. Tác phẩm
đánh dấu bước ngoặt này là Tinh vân tiên nữ của I. A. Efremov
in ra 1957, trong đó ca ngợi sự phát triển hoàn thiện của con
người trong xã hội cộng sản tương lai (năm 3000). Tiếp theo
Efremov, có nhiều nhà văn Soviet có tài khác, làm việc ở khu
vực này như A. Dneprov, G. Go, G. Gurevich, và nổi bật nhất,
phải kể tới hai nhà văn vừa là anh em, vừa là đồng tác giả:
Arkady và Boris Strugatsky. Ngay từ những tác phẩm đầu tay
như Đất nước của những đám mây đỏ rực (1959), Sáu que diêm
(1962), người ta đã nhận ra ở hai nhà văn này những nét độc
đáo, mà độc đáo nhất là những trang sách của họ rất giàu chất
văn học. Trong khi đi vào chủ đề vũ trụ và triển vọng của các
quá trình khoa học kỹ thuật (nghĩa là chất “viễn tưởng” chẳng
kém một ai), các tác phẩm của anh em Strugatsky lại nổi bật lên
ở những uyển chuyển trong việc miêu tả tâm lý, khắc họa tính
cách, và nói chung là khả năng khai thác, phát hiện vẻ đa dạng
trong đời sống tinh thần của các nhân vật.
Từ chỗ miêu tả một quốc gia lý tưởng cho nhân loại trong
Sự trở về (tác phẩm có phụ đề: Buổi trưa ở thế kỷ XXI), hai tác
giả đi dần sang những thể nghiệm trong loại “viễn tưởng xã hội”
mà tiêu biểu là các cuốn Làm trời thật khó và Những đồ vật
hung dữ của thế kỷ (đã được dịch in ở Mỹ với tiêu đề Đoạn cuối
của Thiên đường).
Làm trời thật khó vẽ ra một mô hình văn minh ở trình độ có
vẻ như hoàn thiện, nhưng nhìn kỹ lại thấy những đặc trưng của
thời trung cổ tối tăm hòa làm một với chủ nghĩa phát xít cuồng
chiến, kiêu ngạo, và vì vậy mà cái xã hội này trở nên đối lập hẳn
với tính nhân bản. Ở đây, các tác giả không dự báo gì hết, mà chỉ
gợi ý một điều: với tương lai, không thể nhìn nhận một chiều;
không nên nghĩ rằng cái mới sẽ tới bao giờ cũng tốt; ngược lại,
phải thấy sự phát triển của nhân loại thường hàm chứa trong nó
đủ mọi tiềm năng, khiến mọi tiên đoán về nó phải thật thận
trọng.
Những vật hung dữ của thế kỷ, đề cập sự nguy hiểm của văn
minh khi thói trưởng giả lên ngôi, và như vậy, điều kiện vật chất
càng hoàn thiện, con người càng trở nên hung hãn, độc ác mà
cũng càng ích kỷ, hèn nhát, sống thờ ơ, lạnh nhạt với nhau. Nói
như cách nói của nhà văn Ba Lan Stanisław Lem, khoa học viễn
tưởng không nên đóng vai trò một thứ chuyện bông lơn, nói cho
vui, hoặc những giả thiết khó hiểu của mấy nhà thông thái, mà
mỗi tác giả ở đây phải là một nhà văn hiện thực. Qua việc dựng
lại cuộc sống của con người trong những tình thế giả tưởng, tác
phẩm phải cho bạn đọc hiểu rõ hơn những chuyện đang xảy ra
bên cạnh người ta, ngay trên trái đất. Và không thể nói một
người hiểu đúng tương lai, nếu cảm nhận của người ấy về hiện
tại là nông cạn, nhợt nhạt, thậm chí sai lầm.
Riêng về trường hợp anh em Strugatsky thì rõ ràng các ông
không chỉ thấu hiểu các vấn đề khoa học, hoặc biết dự đoán
những đổi mới sẽ xảy ra, mà còn nhạy cảm và có cách hiểu
chính xác về hiện tại. Có lẽ vì thế mà dư luận bạn đọc cũng như
các nhà nghiên cứu có thẩm quyền ở Liên Xô đánh giá tác phẩm
của anh em Strugatsky khá cao, và khi được dịch ra tiếng nước
ngoài, những tác phẩm xuất sắc nhất của ông được liệt vào loại
đánh dấu sự phát triển chín muồi của thể tài, tức vinh dự mà
xưa nay chỉ đành cho tác phẩm của Asimov, Bradbury (Mỹ), S.
Lem (Ba Lan). Arthur Clarke (Sri Lanka).
Bên cạnh anh em Strugatsky, trong văn học Soviet hiện nay
có một đội ngũ viết khoa học viễn tưởng khá đông đảo. Có
những người như V. Sephone, Tendryakov… vốn làm thơ, viết
văn ở khu vực văn học “bình thường”, thỉnh thoảng cũng viết
khoa học viễn tưởng, ngoài ra nhiều nhà văn khác đồng thời là
các tiến sĩ, giáo sư, các cán bộ khoa học sôi nổi làm việc, tất cả
tạo nên một khung cảnh khá nhộn nhịp.
Tuy chưa có tạp chí riêng, nhưng ở Liên Xô đã xuất bản
nhiều ấn phẩm định kỳ chuyên về khoa học viễn tưởng, và do
các nhà xuất bản Cận vệ trẻ, Kiến thức, Thế giới... chủ trương,
sách thường in ra với số lượng lớn vài chục và đôi khi tới trăm
ngàn bản.
Hội Nhà văn Liên Xô có một phân ban riêng, theo dõi các
sáng tác và công tác dịch trong thể tài văn học độc đáo này.
Từ năm 1968, Arkady Strugatsky trong một cuộc trả lời
phỏng vấn đã nhận xét: “Truyện khoa học viễn tưởng đang chỉ
là “chú vịt con xấu xí”.. Nhưng chẳng bao lâu nữa, những bộ
phim khoa học viễn tưởng sẽ chiếm lĩnh các rạp chiếu bóng,
truyện khoa học viễn tưởng sẽ được thường xuyên giới thiệu
trên vô tuyến truyền hình, trên đài phát thanh. Sẽ có những nhà
viết lịch sử truyện khoa học viễn tưởng, những nhà nghiên cứu
phê bình chuyên về khoa học viễn tưởng. Bóng dáng thanh tú
của con thiên nga tương lai đã thấy thấp thoáng đằng sau “chú
vịt con xấu xí”, không thể nào khác được!”.
Những dự đoán đó dần dần đã trở thành sự thật.
III
Rải rác nhiều năm trước đây, một số tập truyện thuộc loại
“cổ điển” trong khoa học viễn tưởng Soviet đã được dịch ra tiếng
Việt (Người cá, Tinh vân tiên nữ, v.v...). Chính vì vậy, trong
khuôn khổ một tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới
muốn giới thiệu những tác phẩm của những tác giả mới nổi
trong vòng hai chục năm nay. Bên cạnh một đoản thiên khá tiêu
biểu của A. R. Belyaev (được chọn in lại trong số Văn học Soviet
tháng 2-1984, dành riêng về khoa học viễn tưởng), đó là các
sáng tác của K. Bulychev, C. Simonian, I. Varshavsky, M. Pukhov
và nhiều người khác.
Tuy phần lớn chỉ là những thiên truyện ngắn gọn, nhưng
các tác phẩm tập hợp ở đây cũng đã tiêu biểu một phần cho
những khía cạnh khác nhau trong nội dung và nghệ thuật của
khoa học viễn tưởng Soviet hôm nay.
Đọc truyện, chúng ta như được lạc vào một thế giới, với đủ
thứ phát minh kỳ lạ, đại loại một người thân thể dập nát, có thể
chuyển bộ não cấy vào thân thể một con hươu để sống tạm,
hoặc một chàng trai si tình nọ, khoác một chiếc máy lên đầu, có
thể đọc hết mọi ý nghĩ của một cô gái anh ta vẫn gặp trên xe
buýt và yêu vụng nhớ thầm bấy lâu mà không biết làm cách nào
để “tiếp cận”. Ở đây, những con tàu vũ trụ đi lại giữa các hành
tinh đều đều như xe điện, và các nền văn minh trong thiên hà
thì thường xuyên liên hệ với nhau, dù chưa phải đã hiểu hết mọi
thông số của nhau, v.v... và v.v...
Có điều, dù viết về vấn đề gì, các tác giả đều muốn hướng tới
một mục đích duy nhất là tháo gỡ cơ chế tâm lý vốn hết sức tinh
tế của con người tương lai và chỉ rõ rằng thực ra, họ vẫn rất gần
gũi với chúng ta hôm nay.
Ngay khi làm ra được không biết bao nhiêu là sản phẩm đặc
biệt, kể cả tạo ra được một thứ thiên nhiên giống y như thật, thì
con người vẫn không bao giờ nguôi quên cái thiên nhiên thật
mà họ từng tiếp xúc (Bãi cỏ).
Vả chăng, trong việc vận hành các máy móc tự động, con
người vẫn đóng vai trò quyết định, không máy móc nào tinh
xảo, năng động mà lại dễ dàng hoạt động bằng họ (Ánh sáng vô
hình).
Chỉ cần một chút tùy tiện là mỗi người trong họ đã gây ra
những nhiễu loạn rắc rối cho hệ thống máy móc, rồi chỉ những
đầu óc con người thông minh nhất mới điều tra nổi và có cách
xử lý đúng đắn (Độc quyền trí tuệ).
Phải chăng thế giới máy móc sẽ hoàn chỉnh tới mức không
còn chỗ cho những nghịch lý, những sai nhầm từ đó, không còn
có lý do cho những cảm xúc hài hước chân chính? Không đúng!
Với Cô bé luôn luôn gặp may, ta nhận thấy cả trong siêu vũ
trụ đi nữa, vẫn còn may rủi, và nhiều khi, một cái nhìn trẻ thơ,
trong sáng lại là nhân tố duy nhất giúp cho người ta vượt qua
mọi trục trặc, kể cả những trục trặc do cách nghĩ máy móc cứng
queo của con người gây ra! Nói rộng hơn, trong nhiều truyện mà
các bạn đọc sau đây, con người được miêu tả như một thực thể
mà tiềm năng luôn luôn hướng mở về tất cả các phía, mỗi người
có thể là nguồn hạnh phúc, mà cũng là nguồn tai họa cho đồng
loại (Tội ác trên thiên đường mật). Sự phức tạp trong tâm lý –
một nét tiêu biểu trong con người – là điều mà chính những
người máy robot trong lúc thông minh nhất, cũng phải ao ước
(Homunculus).
Nói tóm lại, bên cạnh cái bay bổng của trí tuệ, những truyện
hay nhất trong tập đều trở lại với những vấn đề mà hàng ngày
chúng ta quan tâm và không ai dám nói là đã nhận thức được
hết. Có lẽ vì thế mà dù đây đó, trong các truyện có những chi tiết
chúng ta chưa hiểu, những giả thiết chúng ta không đủ kiến
thức để kiểm tra xem độ chính xác của chúng đến đâu, song trên
cái hướng lớn của các truyện, vẫn có chút gì đó, rất dễ thông
cảm. Sau các ngỡ ngàng trong việc tiếp xúc với một thể văn xuôi
mới lạ chỉ thế kỷ này mới nảy nở mạnh mẽ, rút cục chúng ta có
thể yên tâm và bình tĩnh nghiền ngẫm những gì làm nên cái
chất văn học thực thụ mà mỗi người bình thường vốn đã rất
quen đón nhận.
VƯƠNG TRÍ NHÀN
ÁNH SÁNG VÔ HÌNH
Alexander Belyaev
– Ta thấy rõ Viroval là một thầy thuốc nổi tiếng.
– Phải công nhận vậy thôi, vì ngay cả người mù cũng còn
thấy như vậy mà.
– Sao ông đoán được là tôi mù?
– Đôi mắt bác xanh, trong thật, nhưng không đánh lừa được
tôi. Nó bất động như mắt búp bê. – Rồi người nọ cười khẽ nói
tiếp: – Vả lại, tôi đã giơ ngón tay huơ qua mũi bác mà không thấy
bác chớp mắt.
Người mù cười chua chát, đưa tay vuốt mái tóc hạt dẻ chải
khá chau chuốt, nói:
– Chịu ông. Đúng, tôi mù, và nếu tôi hay nói “tôi thấy rõ” đó
là do thói quen. Tuy nhiên, dù không trông thấy gì, ta vẫn cảm
thấy người này là phong lưu và nổi tiếng. Đây là khu sang trọng
nhất thành phố. Ông bác sĩ có biệt thự riêng. Vườn thơm nức
mùi hoa hồng. Cầu thang rộng. Người gác cổng đón khách.
Trong phòng chờ, toàn mùi nước hoa đắt tiền. Người hầu, con ở,
thư ký, đủ cả. Giá tiền khám bệnh cao. Người bệnh được các trợ
lý khám trước. Những tấm thảm mềm mại dưới chân, ghế bành
bọc lụa...
– Đó chỉ là một sự chuẩn bị tâm lý rất khôn khéo, – người nọ
vẫn cười mỉa mai, tiếp tục rủ rỉ. Ông ta đưa mắt lướt nhanh căn
phòng chờ sang trọng của bác sĩ Viroval, như để kiểm tra lại
những cảm giác của người mù. Tất cả các ghế đều có người bệnh
ngồi chờ, nhiều người đeo kính đen hoặc băng kín mắt. Trên nét
mặt họ, đọc thấy sự chờ đợi, niềm lo âu, hy vọng...
– Bác bị mù chưa lâu, có phải không? Chuyện gì đã xảy ra? –
ông ta hỏi.
– Sao ông lại nghĩ là mới xảy ra? – người mù nhướn đôi lông
mày, ngạc nhiên.
– Những người mù bẩm sinh thường có thái độ, cử chỉ khác.
Tôi cho là bác bị hỏng dây thần kinh thị giác.
– Tôi là kỹ thuật viên về điện, làm việc ở phòng thí nghiệm
của Tổng công ty điện. Ở đó tôi nghiên cứu, làm những kiểu đèn
mới, chiếu ra những tia cực tím...
– Thế là rõ. Đúng như tôi nghĩ. Hay lắm! – Người nọ xoa tay,
ghé vào tai người mù, nói nhỏ: – Bác hãy mặc xác cái thằng cha
lang vườn Viroval này đi. Nhờ đến hắn thì cũng chẳng hơn gì đi
nhờ bất cứ một thằng cha căng chú kiết nào. Nó sẽ bịp bác cho
đến khi bác nhẵn túi, lúc đó nó sẽ bảo là nó đã làm hết khả năng;
vả lại nó nói thế cũng có phần nào đúng, vì không ai còn có thể
bòn rút ở bác đồng nào nữa. Bác có nhiều tiền không? Sống bằng
gì?
Người mù cau mặt:
– Chắc ông cho tôi là người không biết gì. Nhưng dù là mù
và ngây thơ đến đâu cũng thừa đoán được ông là tay chân của
một thầy thuốc khác.
Người nọ cười nhăn cả mặt:
– Bác đoán đúng. Tôi là tay chân của một thầy thuốc. Tên tôi
là Kruss.
– Thế ông thầy thuốc kia tên là gì?
– Cũng là Kruss.
– Trùng tên à?
Kruss cười gằn:
– Hơn cả thế. Tôi là tay chân của chính tôi. Xin hân hạnh tự
giới thiệu: tôi là bác sĩ Kruss. Bác có thể cho tôi biết quý danh?
Người mù im lặng một lúc, miễn cưỡng trả lời:
– Dobel.
– Rất hân hạnh được làm quen, – Kruss thân mật ôm lấy
khuỷu tay người mù… – Bác Dobel, tôi biết bác nghĩ gì về tôi.
Trong cái thành phố đầy rẫy thương gia và những kẻ đầu cơ này,
có hàng ngàn thầy thuốc làm đủ mọi cách để câu khách, nẫng
tay trên bệnh nhân của nhau, chúng không từ những phương
tiện hèn hạ nhất là mưu mẹo và lừa bịp. Nhưng thiết nghĩ chưa
có thầy thuốc nào lại đi hạ mình đến mức đích thân đến tận
phòng chờ của đồng nghiệp để nói xấu bạn và câu bệnh nhận về
mình. Bác Dobel, bác hãy thú thật là bác đang nghĩ như thế đi.
– Cứ cho là thế, – người mù sẵng giọng. – Rồi sao nữa?
– Rồi thì, tôi xin có vinh dự tuyên bố là bác đã nghĩ lầm.
– Khó tin rằng ông có thể làm tôi thay đổi ý kiến.
– Rồi sẽ xem! – Kruss thốt lên, nhưng lại hạ giọng ngay: – Rồi
sẽ xem. Những điều tôi nói sau đây chắc chắn sẽ thuyết phục
bác. Xin thưa: tôi là một bác sĩ thuộc loại đặc biệt. Tôi chữa bệnh
không lấy tiền. Hơn thế: tôi chịu cả tiền ăn ở cho người bệnh.
Mí mắt người mù rung rung:
– Vì từ tâm bác ái chăng?
– Không hẳn thế, – Kruss đáp. – Bác Dobel, tôi sẽ nói thật thà
tất cả với bác, mong rằng bác cũng sẽ thật thà lại với tôi. Xin
tóm tắt... Bố mẹ tôi để lại cho tôi một gia tài lớn, có thể cho phép
tôi làm tại nhà những nghiên cứu khoa học mà tôi vẫn say mê;
tôi có một bệnh viện riêng và một phòng thí nghiệm trang bị
tốt. Và tôi quan tâm đến những bệnh nhân như bác.
Dobel sốt ruột, ngắt:
– Vậy ông yêu cầu gì ở tôi?
– Trước mắt thì chưa yêu cầu gì, – Kruss cười. – Lúc nào bác
cúng hết đồng xu cuối cùng cho Viroval mới là lúc tôi ra tay. Tuy
nhiên, tôi cần biết bác có bao nhiêu tiền. Hãy tin tôi, không phải
để tôi cướp của bác đâu...
Dobel thở dài:
– Than ôi! không nhiều lắm. Tai nạn khiến tôi mù mắt, hồi
đó báo chí có nói tới. Vì vậy, để dập tắt dư luận chung quanh
chuyện đó, Công ty buộc phải bồi thường tôi một số tiền đủ sống
trong một năm. Thế là may lắm. Thời buổi này, ngay những
công nhân mạnh khỏe cũng chưa chắc được bảo đảm sống cả
một năm.
– Với số tiền còn lại, bác còn sống được bao lâu nữa?
– Gần bốn tháng.
– Sau đó thì sao?
Dobel nhún vai:
– Tôi không có thói quen nghĩ đến tương lai.
– Đúng, đúng, bác nói đúng, ngay người sáng mắt cũng càng
ngày càng khó hoạch định cho tương lai của mình – Kruss nói. –
Bốn tháng... Hừm... Và tôi chắc Viroval còn rút ngắn thời gian ấy
nữa. Lúc đó bác chẳng còn tiền đâu để mà sống, nói gì chữa
bệnh. Tuyệt! Vậy lúc đó bác sẽ tìm đến tôi chứ?
Dobel chưa kịp trả lời, thì cô y tá đội khăn trắng toát đã gọi:
– Số bốn mươi tám!
Người mù đứng phắt lên. Cô ta lại gần dắt tay Dobel đưa vào
phòng khám. Kruss ngồi lại ở phòng chờ, xem mấy tờ họa báo để
trên chiếc bàn con sơn bóng.
Vài phút sau, Dobel từ phòng khám đi ra, vẻ mặt vui mừng,
xúc động. Kruss chạy tới đón:
– Cho phép tôi đưa bác về bằng xe hơi riêng. Thế nào? Chắc
Viroval hứa là sẽ trả lại ánh sáng cho bác, phải không?
– Phải.
– Không hỏi cũng biết. Tất nhiên là hắn phải nói thế, – Kruss
cười. – Không nghi ngờ gì nữa, hắn sẽ làm bác sáng mắt ra... theo
một nghĩa nào đó. Lúc nãy bác hỏi tôi có thể làm gì cho bác.
Điều đó tùy thuộc ở bác. Có thể sau này tôi sẽ hết sức làm mọi
cách để mắt bác nhìn được hoàn toàn. Nhưng trước đó bác phải
giúp tôi một việc… Ồ, không ngại gì, chỉ là một thí nghiệm nhỏ,
nó sẽ làm cho bác ít nhất cũng ra khỏi bóng đêm của sự mù lòa.
– Cái gì, ông định nói gì? Tôi sẽ phân biệt ánh sáng với bóng
tối? Ông Viroval hứa sẽ trả lại ánh sáng hoàn toàn cho tôi kia!
– Tôi đã bảo mà! Chưa đến lúc để thảo luận vấn đề này với
bác. Chưa phải thời điểm của tôi...
Xe đỗ trước cửa nhà Dobel trọ. Kruss nói:
– Bây giờ tôi biết nhà bác rồi. Cho phép tôi gửi bác tấm danh
thiếp. Hy vọng sẽ được thấy bác ở nhà tôi ba tháng nữa.
– Tôi cũng mong được thấy ông, thấy bằng chính đôi mắt
của tôi kia, dù chỉ đủ chứng minh rằng Viroval...
– ...Không phải là lang bịp, mà là một danh y chứ gì? – Kruss
cười phá lên và đóng sập cửa xe lại. – Rồi sẽ xem, sẽ xem!
Người mù không nói gì, mạnh dạn bước lên hè và biến mất
sau cửa.
oOo
Và bây giờ ta thấy Dobel lại ngồi trong ghế nệm êm của xe
taxi. Bác chỉ còn đúng số tiền để trả chuyến xe này nữa là hết. Xe
đã bỏ xa đằng sau tiếng tàu điện leng keng và tiếng ồn ào của
những phố đông người. Làn da cảm thấy sức nóng ram ráp của
tia nắng mặt trời. Trong cái phố yên tĩnh này chắc không có
nhiều nhà cao che mất mặt trời. Ngửi thấy mùi cây cỏ, mùi đất,
mùi mùa xuân. Dobel hình dung ra những ngôi nhà xinh xắn
chung quanh có vườn hoa. Không có tiếng động nào khác ngoài
tiếng bánh xe siết trên đường nhựa. Những xe hơi ấy chắc là của
các chủ nhân những ngôi nhà lịch sự nơi đây. Nếu Kruss ở phố
này thì đúng là một người rất giàu.
Xe đỗ. Dobel hỏi:
– Đến rồi ư?
– Vâng, – anh lái xe đáp. – Để tôi đưa bác vào tận nhà.
Chung quanh mùi hoa thơm ngào ngạt. Cát xào xạo dưới
chân đi.
– Bác cẩn thận, có bậc đấy, – anh lái xe hướng dẫn.
– Cảm ơn anh. Bây giờ tôi có thể đi một mình.
Dobel trả tiền, bước lên bậc, đẩy cửa, bước vào một phòng
tiền sảnh mát lạnh.
– Bác hỏi bác sĩ Kruss ạ? – tiếng phụ nữ hỏi.
– Vâng. Nhờ nói hộ là có ông Dobel. Bác sĩ đã biết...
Dobel cảm thấy một bàn tay nhỏ, ấm đặt lên cánh tay mình.
– Tôi xin đưa bác vào phòng khách.
Qua sự thay đổi các mùi hương khác nhau và không khí lúc
ấm, lúc mát, qua các âm khác nhau do các bức tường vọng lại,
Dobel đoán mình đang được dẫn từ phòng này qua phòng khác:
có phòng lớn, phòng nhỏ, phòng tràn ngập ánh nắng và phòng
tối hơn, có phòng nhiều đồ đạc và phòng trống rỗng. Thật là
một ngôi nhà kỳ dị, và cũng kỳ dị thay cái lối dẫn bệnh nhân đi
qua nhiều phòng đến thế.
Có tiếng cửa kẹt nhẹ và giọng nói quen thuộc của Kruss cất
lên:
– Ồ, ai thế này! Chào bác Dobel. Cô Irene, cô có thể để khách
đấy cho tôi.
Bàn tay lạnh và khô ráp của Kruss thay thế bàn tay nhỏ
nhắn, ấm áp của cô y tá. Bước vài bước nữa, Dobel ngửi thấy mùi
thuốc sặc sụa. Nghe có tiếng thủy tinh, sứ gốm, tiếng sắt thép
chạm nhau. Hẳn là có người đang sắp xếp các dụng cụ y tế, bát
đĩa. Kruss vui vẻ:
– Thế là bác đã tìm đến tôi, bác Dobel. Mời bác ngồi ghế này...
Ta không gặp nhau đã được... xem nào... nếu tôi không lầm,
được hai tháng đấy nhỉ? Đúng, đúng, hai tháng. Ông bạn đồng
nghiệp đáng kính của tôi, ông bác sĩ Viroval, đã móc nhẵn túi
bác nhanh hơn tôi dự đoán. Thiết nghĩ hỏi bác có trông thấy tôi
lúc này không là thừa, có phải không?
Dobel cúi đầu lặng lẽ.
– Thôi, bác bạn già ơi, đừng mất hy vọng. Bác sẽ không phải
hối tiếc là đã đến tìm tôi.
– Vậy ông muốn gì ở tôi? – Dobel hỏi.
– Tôi xin nói hết sức sòng phẳng, – Kruss nói, – Bác chính là
người tôi đang cần. Vâng, tôi sẽ chữa cho bác không lấy tiền và
lại còn chu cấp mọi nhu cầu của bác. Tôi sẽ làm hết sức mình trả
lại hoàn toàn ánh sáng cho bác, sau khi hợp đồng giữa chúng ta
hết hạn.
– Hợp đồng nào? – Dobel ngơ ngác.
– Tất nhiên là tôi với bác phải ký kết một hợp đồng bằng văn
bản hẳn hoi chứ, – Kruss cười. – Tôi cũng phải nghĩ đến quyền
lợi của tôi chứ! Tôi có một phát minh nhỏ, cần được đem thử
nghiệm. Bác sẽ chịu một phẫu thuật có phần nguy hiểm nhất
định. Nếu thí nghiệm của tôi thành công, thì dù tạm thời còn bị
mù, bác sẽ nhìn thấy những thứ mà không người nào khác trên
đời này thấy được. Sau đó, lúc nào tôi xin được cấp bằng sáng
chế xong, tôi sẽ lĩnh trách nhiệm làm hết sức mình để trả lại cho
bác thị giác bình thường.
– Và ông cho rằng tôi chỉ còn có việc nhận lời?
– Nhất định là thế, bác Dobel ạ. Bác đang ở trong tình thế bế
tắc. Nếu không nhận, bác sẽ đi đâu? Đi ăn xin ngoài phố ư?
– Nhưng ông hãy nói sau khi phẫu thuật rồi thì sẽ xảy ra
chuyện gì với tôi? – Dobel ấm ức hỏi.
– Nếu phẫu thuật thành công... Tôi tin rằng sau khi mổ, bác
có thể sẽ nhìn thấy dòng điện, các từ trường, các sóng vô tuyến,
tóm lại là mọi sự vận động của các điện tử. Vô lý ư? Sao? Không,
rất đơn giản.
Vừa đi đi lại lại trong phòng, Kruss vừa giải thích phát minh
của mình như người giảng bài:
– Bác thừa biết rằng mỗi cơ quan trong thân thể người ta có
cách riêng biệt, đặc thù của mình để phản ứng với các tác nhân
kích thích từ bên ngoài. Khẽ đập vào tai, bác sẽ nghe thấy một
tiếng động. Nhưng nếu đập hoặc ấn lên nhãn cầu, bác sẽ có
những cảm giác lóe sáng. Người ta thường nói “nổ đom đóm
mắt” là thế. Tóm lại, cơ quan thị giác đáp ứng bằng những cảm
giác lóe sáng không phải chỉ đối với những kích thích quang
học, mà cả với những kích thích cơ học, nhiệt điện… Tôi có làm
một cái máy rất nhỏ, một thứ máy điện nghiệm có độ nhậy rất
cao. Máy có những dây bạc cực mảnh nối vào dây thần kinh thị
giác, hoặc vào trung tâm thị giác của não. Cho dòng điện chạy
vào máy, dây thần kinh hoặc trung tâm thị giác phải phản ứng
lại bằng những cảm giác lóe sáng. Rất đơn giản. Cái khó là làm
sao nối được cơ cấu bất động của máy vào hệ thị giác sống của
con người, vì phải làm cho bác có thể chiếu những cảm giác...
TẬP TRUYỆN NGẮN
KHOA HỌC VIỄN TƯỞNG LIÊN XÔ
NHÀ XUẤT BẢN TÁC PHẨM MỚI
HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM – 1985
LỜI GIỚI THIỆU
I
Xem xét quá trình phát triển của văn học xưa nay, người ta
vẫn thấy có những tác phẩm trong đó những yếu tố của hiện
thực được phối hợp một cách đặc biệt, không theo những
nguyên tắc sẵn có của đời sống mà theo một cách riêng, từ đó
tạo ra những khung cảnh “quái đản”, những con người kỳ dị và
đủ các chuyện lạ khác. Ví dụ rất nhiều, từ những bóng ma trong
kịch Shakespeare, những người khổng lồ và người tí hon trong J.
Swift, qua các nhân vật trong Gargantua và Pantagruel của
Rabelais, một số truyện của Voltaire, truyện ngắn của
Ho mann ở Đức, E. Poe ở Mỹ v.v... Ở phương Đông có Truyền kỳ
mạn lục của Nguyễn Dữ, Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, v.v...
Mượn cái không thể có để biểu hiện cái có thể có trong đời
sống, đấy chính là một hình thức nhận thức: nhận thức thông
qua lạ hóa.
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học kỹ thuật, lại thấy nảy nở một loại truyện có sắc
thái mới: hoặc là dự đoán những thành tựu khoa học mà một
thời gian sau loài người mới đạt tới (việc sáng chế các loại máy
móc mới, việc sử dụng năng lượng mặt trời, nhờ sự trợ giúp của
một chất bán dẫn nào đó, v.v...); hoặc kể về một số hiện tượng xã
hội kỳ lạ, sẽ xảy ra trong tương lai.
Cũng từ đây, danh từ khoa học viễn tưởng ra đời. Hai tác giả
thuộc loại cổ điển ở thể văn này là Jules Verne (1825-1905) với
các tác phẩm như Cuộc du lịch của đại úy Hatteras, Hòn đảo bí
mật, Tám vạn dặm dưới biển, và Herbert Wells (1866-1946), tác
giả Người vô hình, Cuộc chiến tranh giữa các thế giới, v.v... Jules
Verne là người đầu tiên hiểu rằng thế giới sẽ chịu ảnh hưởng của
kỹ thuật. Ông ý thức được rằng trên trái đất dần dần và nhất
định sẽ có nhiều máy móc. Còn tiểu thuyết của Wells, theo cách
nói của nhà văn Soviet Olessa, chính là những thần thoại của
thời đại mới, những thần thoại kể về máy móc và con người giữa
những máy móc. Tên tuổi của hai ông, gắn liền với hai dòng
chính mà đến nay người ta còn thấy trong truyện khoa học viễn
tưởng.
Tuy nhiên, chỉ từ đại chiến thế giới thứ hai trở lại đây, loại
truyện này mới trở thành hiện tượng bùng nổ mạnh mẽ ở nhiều
nước.
Số nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng rất đông. Riêng
ở Mỹ, theo một con số thống kê năm 1967, số nhà văn loại này
đã lên tới ba bốn trăm người, trong đó ba bốn chục người rất ăn
khách, tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng khác.
Có những nhà xuất bản, những tạp chí chuyên môn in các
loại truyện khoa học viễn tưởng.
Có những giải thưởng dành tặng cho các tác phẩm xuất sắc
hàng năm. Có những câu lạc bộ khoa học viễn tưởng hoạt động
với thư viện riêng, ngân sách riêng, v.v...
Ở Anh, Pháp, Ý, Nhật, các nước Bắc Âu, cũng như ở các nước
xã hội chủ nghĩa, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Cộng hòa Dân chủ
Đức, v.v... khoa học viễn tưởng đã trở thành một “phân xưởng”
không thể thiếu trong guồng máy văn học. Giữa nước nọ nước
kia, việc dịch in và phổ biến những tác phẩm mới ra đời được
xúc tiến hết sức nhanh chóng.
Tại sao khoa học viễn tưởng phát triển mạnh như vậy? Trên
nét lớn, có thể cắt nghĩa bằng một lý do giản dị:
Từ nhiều thế kỷ nay, câu hỏi tương lai loài người, tương lai
thế giới ra sao, vẫn là câu hỏi trở đi trở lại trong tâm trí nhiều
người, thuộc nhiều thế hệ.
Đến thời đại chúng ta, câu hỏi trên càng có sức ám ảnh. Mặc
dù khoa học có giúp cho người ta giải đáp một số vấn đề, nhưng
nhiều vấn đề khác – mà lại là những vấn đề chính yếu – vẫn nằm
ngoài tầm tay, do đó, càng thu hút sự chú ý của nhiều người:
– Máy móc được chế tạo thêm, sản phẩm làm ra nhiều hơn,
điều kiện đời sống thuận tiện hơn, có phải bao giờ cũng tốt đẹp,
hay nó sẽ phá vỡ sự cân bằng và những mối quan hệ vốn có của
xã hội?
– Người máy, và những máy móc siêu đẳng khác, do con
người chế tạo ra, có thay thế được cho con người? Trong xã hội
kỹ thuật phát triển đó, vai trò của con người nên được hình
dung ra sao?
– Những tìm tòi của con người vào khoảng không vũ trụ và
cuộc tấn công vào thế giới chung quanh nói chung sẽ mở ra
không cùng, hay có những giới hạn của nó?
– Cùng với mọi biến đổi trong khoa học kỹ thuật, bản thân
con người và xã hội loài người sẽ thay đổi theo hướng nào? Đặc
biệt đời sống tinh thần của con người sẽ giàu có hơn hay nghèo
nàn đi? Những sự tha hóa nào cần được đề phòng?
V.v... và v.v...
Những câu hỏi trên và nhiều câu hỏi tương tự khác, liên tiếp
được đặt ra.
Một mặt, các nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng, phần
lớn là những người rất thông thạo các vấn đề khoa học kỹ thuật
hiện đại (một số trong họ là những nhà khoa học thực thụ, viết
khoa học viễn tưởng như một “nghề tay trái”), nên họ cùng
tham gia dự đoán như mọi người.
Mặt khác, như chúng ta thấy, trước sau những người được
dư luận công nhận vẫn là những nhà văn nặng lòng trắc ẩn và
hết sức nhạy cảm. Trong khi phóng trí tưởng tượng về phía
trước, họ thường chia sẻ với chúng ta những lo âu, để rồi, vượt
qua những lo âu đó, đạt đến một cái nhìn lạc quan chân chính.
Rất tự hào về nghề nghiệp của mình, A. Asimov, một nhà
viết truyện khoa học nổi tiếng đồng thời là một nhà bác học
người Mỹ cho rằng: “Yêu khoa học viễn tưởng có nghĩa là quan
tâm tới tương lai nhân loại, và ở mức độ nào đó, là yêu tất cả mọi
người, muốn cho mọi người hạnh phúc”.
Bradbury, một nhà văn Mỹ khác bổ sung: “Suy cho cùng, chỉ
những ai không hài lòng với xã hội hôm nay và biết biểu lộ sự
không hài lòng đó một cách mạnh mẽ, người đó mới xây dựng
được những truyện khoa học viễn tưởng có giá trị”.
Theo cách nói của nhà văn Bungari I. Virusev, khoa học viễn
tưởng nảy sinh để giúp cho loài người hình dung ra “cái độ cao
đến chóng mặt” mà chúng ta đã đạt tới trong lĩnh vực khoa học
kỹ thuật. Thoạt đầu, qua khoa học viễn tưởng, người ta thấy
toát ra một niềm kiêu hãnh chính đáng; rồi sau đó, một nỗi lo
lắng không kém phần gớm ghê; cả niềm kiêu hãnh lẫn nỗi lo
lắng kia gắn liền với sự phát triển của kỹ thuật. Bởi vậy, ông kết
luận, – “khoa học viễn tưởng giúp tôi viết về con người tương
lai, những người sống trong thế kỷ siêu kỹ thuật, nhưng không
bao giờ nguôi quên cái khao khát chính đáng là làm chủ thế
giới”.
Nghiên cứu sáng tác của các đồng nghiệp khác và từ sáng
tác của bản thân, nhà văn Cộng hòa Dân chủ Đức là C. Krupcat
đi tới kết luận: “Trí tưởng tượng của người ta thật không biết
đâu là cùng. Trong toàn bộ vẻ đa dạng của nó, thế giới là vô hạn.
Nhưng người ta có thể nhận thức được thế giới đó”. Ông chọn
con đường trở thành nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng
với mục đích sáng rõ “mở ra cho con người thấy cả thế giới bao
la của tính nhân đạo”, tức giúp cho họ thêm kiêu hãnh làm
người.
Từ chỗ mải mê đi vào dự đoán các máy móc sẽ được chế tạo,
các nguồn năng lượng sẽ được đưa vào sử dụng, từ chỗ say sưa
với thế giới của những hành tinh chưa từng có dấu vết sự sống,
gần đây khoa học viễn tưởng bắt đầu có thêm những hướng đi
mới. Một số tác giả chú ý nhiều hơn đến những đổi mới sẽ xảy ra
trong sinh học, y học; một số kiên trì đi vào thế giới nội tâm của
con người, tìm cách phát hiện ra ở đó tất cả những gì lạ lùng kỳ
dị, và cố nhiên chúng ta còn biết rất ít, nhất là khi đặt nó vào
khung cảnh của những biến đổi kỹ thuật sẽ xảy tới trong tương
lai. Một ngành khoa học viễn tưởng mới bắt đầu xuất hiện: khoa
học viễn tưởng có tính triết học và tâm lý sâu sắc. Nó khiến cho
thể văn này khắc phục được một nhược điểm người ta vẫn chế
giễu là chỉ đi vào những khía cạnh li kỳ của sự tìm tòi mà thiếu
khả năng đề cập những chuyện gần gũi với đời sống bên trong
của con người. Nhiều nhà văn vốn nổi tiếng ở các khu vực khác
nay cũng viết khoa học viễn tưởng. K. Sapeil ở Tiệp (người lần
đầu tiên nói đến người máy – robot). A. Maurois, Vecco ở Pháp,
Kobo Abe ở Nhật, Dürrenmatt ở Thụy Sĩ, v.v... Với sự tham gia
của các cây bút bậc thầy này, chất văn học trong khoa học viễn
tưởng được triển khai trên nhiều bình diện mới. Một nhà văn
Rumani là I. Habana tuyên bố, “khoa học viễn tưởng là một
công cụ vô giá trong công cuộc nghiên cứu tâm lý”. Ông nêu ra
một nhận xét được nhiều người đồng tình: “Đối với nhà văn,
không gì khó hơn và thú vị hơn là đoán ra cảm xúc, và nói
chung, đoán ra phản ứng tâm lý của những con người tương lai,
dự báo những mâu thuẫn mà chỉ tương lai mới có”.
II
Trên nét lớn, những nhận xét vừa nêu ở trên với truyện
khoa học viễn tưởng nói chung cũng đúng với sự phát triển của
thể tài này ở một nền văn học chúng ta từng đã quen biết, là văn
học Soviet.
Với các sáng tác như Con đầm pích của Puskin, Cái mũi của
Gogol, và nhiều truyện ngắn, truyện vừa của A. Kuprin, văn học
Nga thế kỷ thứ XIX từng biết tới một dạng tư duy văn học, đặc
biệt là lối phản ánh đời sống qua những hình ảnh quái lạ, những
biến dạng kỳ dị, và nói chung là phản ánh theo lối ước lệ, nhưng
lại làm nổi bật bản chất của đời sống. Về một phương diện khác,
trong những công trình nghiên cứu và phổ biến khoa học của
một người như C. Tsiolkovsky, cũng thấy đưa ra nhiều dự án cho
các máy móc sẽ được phát triển trong tương lai. Qua đầu thế kỷ
XX, người đi đầu trong lĩnh vực khoa học viễn tưởng ở Nga,
không ai khác hơn nhà văn Alexey Tolstoy. Trong các cuốn tiểu
thuyết Hyperboloid và chiếc đèn chiếu của kỹ sư Garin, nếu bạn
đọc trẻ tuổi thấy thú vị trước những hình tượng lãng mạn, thì
những người từng trải lại nhận ra được ở đó những mâu thuẫn
xã hội sâu sắc, và bởi vậy, các thiên truyện đó của A. Tolstoy vừa
hấp dẫn, vừa có giá trị. Các nhà văn viết truyện khoa học viễn
tưởng ở Liên Xô hiện nay thường vẫn tự hào là ngay từ đầu, thể
tài này đã được các nhà văn chân chính mở đường.
Nhà văn Soviet đầu tiên dành tất cả tài năng cho khoa học
viễn tưởng là A. R. Belyaev (1884-1942). Trong những tác phẩm
như Cái đầu của giáo sư Dowell, Đảo của những thuyền đắm,
Người cá, v.v... Belyaev thường nói về các vấn đề khoa học trong
tương lai, nhất là những đổi mới trong sinh học, y học.
Nếu từ khoảng những năm ba mươi, cho tới nửa đầu những
năm 50, sự phát triển của khoa học viễn tưởng ở Liên Xô có
phần hạn chế trong lĩnh vực phổ biến những cái mới trong khoa
học, tức là tự trói buộc trong những “mục đích gần”, thì sau đó,
từ cuối những năm 50, nó sẽ có những đổi mới rõ rệt. Tác phẩm
đánh dấu bước ngoặt này là Tinh vân tiên nữ của I. A. Efremov
in ra 1957, trong đó ca ngợi sự phát triển hoàn thiện của con
người trong xã hội cộng sản tương lai (năm 3000). Tiếp theo
Efremov, có nhiều nhà văn Soviet có tài khác, làm việc ở khu
vực này như A. Dneprov, G. Go, G. Gurevich, và nổi bật nhất,
phải kể tới hai nhà văn vừa là anh em, vừa là đồng tác giả:
Arkady và Boris Strugatsky. Ngay từ những tác phẩm đầu tay
như Đất nước của những đám mây đỏ rực (1959), Sáu que diêm
(1962), người ta đã nhận ra ở hai nhà văn này những nét độc
đáo, mà độc đáo nhất là những trang sách của họ rất giàu chất
văn học. Trong khi đi vào chủ đề vũ trụ và triển vọng của các
quá trình khoa học kỹ thuật (nghĩa là chất “viễn tưởng” chẳng
kém một ai), các tác phẩm của anh em Strugatsky lại nổi bật lên
ở những uyển chuyển trong việc miêu tả tâm lý, khắc họa tính
cách, và nói chung là khả năng khai thác, phát hiện vẻ đa dạng
trong đời sống tinh thần của các nhân vật.
Từ chỗ miêu tả một quốc gia lý tưởng cho nhân loại trong
Sự trở về (tác phẩm có phụ đề: Buổi trưa ở thế kỷ XXI), hai tác
giả đi dần sang những thể nghiệm trong loại “viễn tưởng xã hội”
mà tiêu biểu là các cuốn Làm trời thật khó và Những đồ vật
hung dữ của thế kỷ (đã được dịch in ở Mỹ với tiêu đề Đoạn cuối
của Thiên đường).
Làm trời thật khó vẽ ra một mô hình văn minh ở trình độ có
vẻ như hoàn thiện, nhưng nhìn kỹ lại thấy những đặc trưng của
thời trung cổ tối tăm hòa làm một với chủ nghĩa phát xít cuồng
chiến, kiêu ngạo, và vì vậy mà cái xã hội này trở nên đối lập hẳn
với tính nhân bản. Ở đây, các tác giả không dự báo gì hết, mà chỉ
gợi ý một điều: với tương lai, không thể nhìn nhận một chiều;
không nên nghĩ rằng cái mới sẽ tới bao giờ cũng tốt; ngược lại,
phải thấy sự phát triển của nhân loại thường hàm chứa trong nó
đủ mọi tiềm năng, khiến mọi tiên đoán về nó phải thật thận
trọng.
Những vật hung dữ của thế kỷ, đề cập sự nguy hiểm của văn
minh khi thói trưởng giả lên ngôi, và như vậy, điều kiện vật chất
càng hoàn thiện, con người càng trở nên hung hãn, độc ác mà
cũng càng ích kỷ, hèn nhát, sống thờ ơ, lạnh nhạt với nhau. Nói
như cách nói của nhà văn Ba Lan Stanisław Lem, khoa học viễn
tưởng không nên đóng vai trò một thứ chuyện bông lơn, nói cho
vui, hoặc những giả thiết khó hiểu của mấy nhà thông thái, mà
mỗi tác giả ở đây phải là một nhà văn hiện thực. Qua việc dựng
lại cuộc sống của con người trong những tình thế giả tưởng, tác
phẩm phải cho bạn đọc hiểu rõ hơn những chuyện đang xảy ra
bên cạnh người ta, ngay trên trái đất. Và không thể nói một
người hiểu đúng tương lai, nếu cảm nhận của người ấy về hiện
tại là nông cạn, nhợt nhạt, thậm chí sai lầm.
Riêng về trường hợp anh em Strugatsky thì rõ ràng các ông
không chỉ thấu hiểu các vấn đề khoa học, hoặc biết dự đoán
những đổi mới sẽ xảy ra, mà còn nhạy cảm và có cách hiểu
chính xác về hiện tại. Có lẽ vì thế mà dư luận bạn đọc cũng như
các nhà nghiên cứu có thẩm quyền ở Liên Xô đánh giá tác phẩm
của anh em Strugatsky khá cao, và khi được dịch ra tiếng nước
ngoài, những tác phẩm xuất sắc nhất của ông được liệt vào loại
đánh dấu sự phát triển chín muồi của thể tài, tức vinh dự mà
xưa nay chỉ đành cho tác phẩm của Asimov, Bradbury (Mỹ), S.
Lem (Ba Lan). Arthur Clarke (Sri Lanka).
Bên cạnh anh em Strugatsky, trong văn học Soviet hiện nay
có một đội ngũ viết khoa học viễn tưởng khá đông đảo. Có
những người như V. Sephone, Tendryakov… vốn làm thơ, viết
văn ở khu vực văn học “bình thường”, thỉnh thoảng cũng viết
khoa học viễn tưởng, ngoài ra nhiều nhà văn khác đồng thời là
các tiến sĩ, giáo sư, các cán bộ khoa học sôi nổi làm việc, tất cả
tạo nên một khung cảnh khá nhộn nhịp.
Tuy chưa có tạp chí riêng, nhưng ở Liên Xô đã xuất bản
nhiều ấn phẩm định kỳ chuyên về khoa học viễn tưởng, và do
các nhà xuất bản Cận vệ trẻ, Kiến thức, Thế giới... chủ trương,
sách thường in ra với số lượng lớn vài chục và đôi khi tới trăm
ngàn bản.
Hội Nhà văn Liên Xô có một phân ban riêng, theo dõi các
sáng tác và công tác dịch trong thể tài văn học độc đáo này.
Từ năm 1968, Arkady Strugatsky trong một cuộc trả lời
phỏng vấn đã nhận xét: “Truyện khoa học viễn tưởng đang chỉ
là “chú vịt con xấu xí”.. Nhưng chẳng bao lâu nữa, những bộ
phim khoa học viễn tưởng sẽ chiếm lĩnh các rạp chiếu bóng,
truyện khoa học viễn tưởng sẽ được thường xuyên giới thiệu
trên vô tuyến truyền hình, trên đài phát thanh. Sẽ có những nhà
viết lịch sử truyện khoa học viễn tưởng, những nhà nghiên cứu
phê bình chuyên về khoa học viễn tưởng. Bóng dáng thanh tú
của con thiên nga tương lai đã thấy thấp thoáng đằng sau “chú
vịt con xấu xí”, không thể nào khác được!”.
Những dự đoán đó dần dần đã trở thành sự thật.
III
Rải rác nhiều năm trước đây, một số tập truyện thuộc loại
“cổ điển” trong khoa học viễn tưởng Soviet đã được dịch ra tiếng
Việt (Người cá, Tinh vân tiên nữ, v.v...). Chính vì vậy, trong
khuôn khổ một tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới
muốn giới thiệu những tác phẩm của những tác giả mới nổi
trong vòng hai chục năm nay. Bên cạnh một đoản thiên khá tiêu
biểu của A. R. Belyaev (được chọn in lại trong số Văn học Soviet
tháng 2-1984, dành riêng về khoa học viễn tưởng), đó là các
sáng tác của K. Bulychev, C. Simonian, I. Varshavsky, M. Pukhov
và nhiều người khác.
Tuy phần lớn chỉ là những thiên truyện ngắn gọn, nhưng
các tác phẩm tập hợp ở đây cũng đã tiêu biểu một phần cho
những khía cạnh khác nhau trong nội dung và nghệ thuật của
khoa học viễn tưởng Soviet hôm nay.
Đọc truyện, chúng ta như được lạc vào một thế giới, với đủ
thứ phát minh kỳ lạ, đại loại một người thân thể dập nát, có thể
chuyển bộ não cấy vào thân thể một con hươu để sống tạm,
hoặc một chàng trai si tình nọ, khoác một chiếc máy lên đầu, có
thể đọc hết mọi ý nghĩ của một cô gái anh ta vẫn gặp trên xe
buýt và yêu vụng nhớ thầm bấy lâu mà không biết làm cách nào
để “tiếp cận”. Ở đây, những con tàu vũ trụ đi lại giữa các hành
tinh đều đều như xe điện, và các nền văn minh trong thiên hà
thì thường xuyên liên hệ với nhau, dù chưa phải đã hiểu hết mọi
thông số của nhau, v.v... và v.v...
Có điều, dù viết về vấn đề gì, các tác giả đều muốn hướng tới
một mục đích duy nhất là tháo gỡ cơ chế tâm lý vốn hết sức tinh
tế của con người tương lai và chỉ rõ rằng thực ra, họ vẫn rất gần
gũi với chúng ta hôm nay.
Ngay khi làm ra được không biết bao nhiêu là sản phẩm đặc
biệt, kể cả tạo ra được một thứ thiên nhiên giống y như thật, thì
con người vẫn không bao giờ nguôi quên cái thiên nhiên thật
mà họ từng tiếp xúc (Bãi cỏ).
Vả chăng, trong việc vận hành các máy móc tự động, con
người vẫn đóng vai trò quyết định, không máy móc nào tinh
xảo, năng động mà lại dễ dàng hoạt động bằng họ (Ánh sáng vô
hình).
Chỉ cần một chút tùy tiện là mỗi người trong họ đã gây ra
những nhiễu loạn rắc rối cho hệ thống máy móc, rồi chỉ những
đầu óc con người thông minh nhất mới điều tra nổi và có cách
xử lý đúng đắn (Độc quyền trí tuệ).
Phải chăng thế giới máy móc sẽ hoàn chỉnh tới mức không
còn chỗ cho những nghịch lý, những sai nhầm từ đó, không còn
có lý do cho những cảm xúc hài hước chân chính? Không đúng!
Với Cô bé luôn luôn gặp may, ta nhận thấy cả trong siêu vũ
trụ đi nữa, vẫn còn may rủi, và nhiều khi, một cái nhìn trẻ thơ,
trong sáng lại là nhân tố duy nhất giúp cho người ta vượt qua
mọi trục trặc, kể cả những trục trặc do cách nghĩ máy móc cứng
queo của con người gây ra! Nói rộng hơn, trong nhiều truyện mà
các bạn đọc sau đây, con người được miêu tả như một thực thể
mà tiềm năng luôn luôn hướng mở về tất cả các phía, mỗi người
có thể là nguồn hạnh phúc, mà cũng là nguồn tai họa cho đồng
loại (Tội ác trên thiên đường mật). Sự phức tạp trong tâm lý –
một nét tiêu biểu trong con người – là điều mà chính những
người máy robot trong lúc thông minh nhất, cũng phải ao ước
(Homunculus).
Nói tóm lại, bên cạnh cái bay bổng của trí tuệ, những truyện
hay nhất trong tập đều trở lại với những vấn đề mà hàng ngày
chúng ta quan tâm và không ai dám nói là đã nhận thức được
hết. Có lẽ vì thế mà dù đây đó, trong các truyện có những chi tiết
chúng ta chưa hiểu, những giả thiết chúng ta không đủ kiến
thức để kiểm tra xem độ chính xác của chúng đến đâu, song trên
cái hướng lớn của các truyện, vẫn có chút gì đó, rất dễ thông
cảm. Sau các ngỡ ngàng trong việc tiếp xúc với một thể văn xuôi
mới lạ chỉ thế kỷ này mới nảy nở mạnh mẽ, rút cục chúng ta có
thể yên tâm và bình tĩnh nghiền ngẫm những gì làm nên cái
chất văn học thực thụ mà mỗi người bình thường vốn đã rất
quen đón nhận.
VƯƠNG TRÍ NHÀN
ÁNH SÁNG VÔ HÌNH
Alexander Belyaev
– Ta thấy rõ Viroval là một thầy thuốc nổi tiếng.
– Phải công nhận vậy thôi, vì ngay cả người mù cũng còn
thấy như vậy mà.
– Sao ông đoán được là tôi mù?
– Đôi mắt bác xanh, trong thật, nhưng không đánh lừa được
tôi. Nó bất động như mắt búp bê. – Rồi người nọ cười khẽ nói
tiếp: – Vả lại, tôi đã giơ ngón tay huơ qua mũi bác mà không thấy
bác chớp mắt.
Người mù cười chua chát, đưa tay vuốt mái tóc hạt dẻ chải
khá chau chuốt, nói:
– Chịu ông. Đúng, tôi mù, và nếu tôi hay nói “tôi thấy rõ” đó
là do thói quen. Tuy nhiên, dù không trông thấy gì, ta vẫn cảm
thấy người này là phong lưu và nổi tiếng. Đây là khu sang trọng
nhất thành phố. Ông bác sĩ có biệt thự riêng. Vườn thơm nức
mùi hoa hồng. Cầu thang rộng. Người gác cổng đón khách.
Trong phòng chờ, toàn mùi nước hoa đắt tiền. Người hầu, con ở,
thư ký, đủ cả. Giá tiền khám bệnh cao. Người bệnh được các trợ
lý khám trước. Những tấm thảm mềm mại dưới chân, ghế bành
bọc lụa...
– Đó chỉ là một sự chuẩn bị tâm lý rất khôn khéo, – người nọ
vẫn cười mỉa mai, tiếp tục rủ rỉ. Ông ta đưa mắt lướt nhanh căn
phòng chờ sang trọng của bác sĩ Viroval, như để kiểm tra lại
những cảm giác của người mù. Tất cả các ghế đều có người bệnh
ngồi chờ, nhiều người đeo kính đen hoặc băng kín mắt. Trên nét
mặt họ, đọc thấy sự chờ đợi, niềm lo âu, hy vọng...
– Bác bị mù chưa lâu, có phải không? Chuyện gì đã xảy ra? –
ông ta hỏi.
– Sao ông lại nghĩ là mới xảy ra? – người mù nhướn đôi lông
mày, ngạc nhiên.
– Những người mù bẩm sinh thường có thái độ, cử chỉ khác.
Tôi cho là bác bị hỏng dây thần kinh thị giác.
– Tôi là kỹ thuật viên về điện, làm việc ở phòng thí nghiệm
của Tổng công ty điện. Ở đó tôi nghiên cứu, làm những kiểu đèn
mới, chiếu ra những tia cực tím...
– Thế là rõ. Đúng như tôi nghĩ. Hay lắm! – Người nọ xoa tay,
ghé vào tai người mù, nói nhỏ: – Bác hãy mặc xác cái thằng cha
lang vườn Viroval này đi. Nhờ đến hắn thì cũng chẳng hơn gì đi
nhờ bất cứ một thằng cha căng chú kiết nào. Nó sẽ bịp bác cho
đến khi bác nhẵn túi, lúc đó nó sẽ bảo là nó đã làm hết khả năng;
vả lại nó nói thế cũng có phần nào đúng, vì không ai còn có thể
bòn rút ở bác đồng nào nữa. Bác có nhiều tiền không? Sống bằng
gì?
Người mù cau mặt:
– Chắc ông cho tôi là người không biết gì. Nhưng dù là mù
và ngây thơ đến đâu cũng thừa đoán được ông là tay chân của
một thầy thuốc khác.
Người nọ cười nhăn cả mặt:
– Bác đoán đúng. Tôi là tay chân của một thầy thuốc. Tên tôi
là Kruss.
– Thế ông thầy thuốc kia tên là gì?
– Cũng là Kruss.
– Trùng tên à?
Kruss cười gằn:
– Hơn cả thế. Tôi là tay chân của chính tôi. Xin hân hạnh tự
giới thiệu: tôi là bác sĩ Kruss. Bác có thể cho tôi biết quý danh?
Người mù im lặng một lúc, miễn cưỡng trả lời:
– Dobel.
– Rất hân hạnh được làm quen, – Kruss thân mật ôm lấy
khuỷu tay người mù… – Bác Dobel, tôi biết bác nghĩ gì về tôi.
Trong cái thành phố đầy rẫy thương gia và những kẻ đầu cơ này,
có hàng ngàn thầy thuốc làm đủ mọi cách để câu khách, nẫng
tay trên bệnh nhân của nhau, chúng không từ những phương
tiện hèn hạ nhất là mưu mẹo và lừa bịp. Nhưng thiết nghĩ chưa
có thầy thuốc nào lại đi hạ mình đến mức đích thân đến tận
phòng chờ của đồng nghiệp để nói xấu bạn và câu bệnh nhận về
mình. Bác Dobel, bác hãy thú thật là bác đang nghĩ như thế đi.
– Cứ cho là thế, – người mù sẵng giọng. – Rồi sao nữa?
– Rồi thì, tôi xin có vinh dự tuyên bố là bác đã nghĩ lầm.
– Khó tin rằng ông có thể làm tôi thay đổi ý kiến.
– Rồi sẽ xem! – Kruss thốt lên, nhưng lại hạ giọng ngay: – Rồi
sẽ xem. Những điều tôi nói sau đây chắc chắn sẽ thuyết phục
bác. Xin thưa: tôi là một bác sĩ thuộc loại đặc biệt. Tôi chữa bệnh
không lấy tiền. Hơn thế: tôi chịu cả tiền ăn ở cho người bệnh.
Mí mắt người mù rung rung:
– Vì từ tâm bác ái chăng?
– Không hẳn thế, – Kruss đáp. – Bác Dobel, tôi sẽ nói thật thà
tất cả với bác, mong rằng bác cũng sẽ thật thà lại với tôi. Xin
tóm tắt... Bố mẹ tôi để lại cho tôi một gia tài lớn, có thể cho phép
tôi làm tại nhà những nghiên cứu khoa học mà tôi vẫn say mê;
tôi có một bệnh viện riêng và một phòng thí nghiệm trang bị
tốt. Và tôi quan tâm đến những bệnh nhân như bác.
Dobel sốt ruột, ngắt:
– Vậy ông yêu cầu gì ở tôi?
– Trước mắt thì chưa yêu cầu gì, – Kruss cười. – Lúc nào bác
cúng hết đồng xu cuối cùng cho Viroval mới là lúc tôi ra tay. Tuy
nhiên, tôi cần biết bác có bao nhiêu tiền. Hãy tin tôi, không phải
để tôi cướp của bác đâu...
Dobel thở dài:
– Than ôi! không nhiều lắm. Tai nạn khiến tôi mù mắt, hồi
đó báo chí có nói tới. Vì vậy, để dập tắt dư luận chung quanh
chuyện đó, Công ty buộc phải bồi thường tôi một số tiền đủ sống
trong một năm. Thế là may lắm. Thời buổi này, ngay những
công nhân mạnh khỏe cũng chưa chắc được bảo đảm sống cả
một năm.
– Với số tiền còn lại, bác còn sống được bao lâu nữa?
– Gần bốn tháng.
– Sau đó thì sao?
Dobel nhún vai:
– Tôi không có thói quen nghĩ đến tương lai.
– Đúng, đúng, bác nói đúng, ngay người sáng mắt cũng càng
ngày càng khó hoạch định cho tương lai của mình – Kruss nói. –
Bốn tháng... Hừm... Và tôi chắc Viroval còn rút ngắn thời gian ấy
nữa. Lúc đó bác chẳng còn tiền đâu để mà sống, nói gì chữa
bệnh. Tuyệt! Vậy lúc đó bác sẽ tìm đến tôi chứ?
Dobel chưa kịp trả lời, thì cô y tá đội khăn trắng toát đã gọi:
– Số bốn mươi tám!
Người mù đứng phắt lên. Cô ta lại gần dắt tay Dobel đưa vào
phòng khám. Kruss ngồi lại ở phòng chờ, xem mấy tờ họa báo để
trên chiếc bàn con sơn bóng.
Vài phút sau, Dobel từ phòng khám đi ra, vẻ mặt vui mừng,
xúc động. Kruss chạy tới đón:
– Cho phép tôi đưa bác về bằng xe hơi riêng. Thế nào? Chắc
Viroval hứa là sẽ trả lại ánh sáng cho bác, phải không?
– Phải.
– Không hỏi cũng biết. Tất nhiên là hắn phải nói thế, – Kruss
cười. – Không nghi ngờ gì nữa, hắn sẽ làm bác sáng mắt ra... theo
một nghĩa nào đó. Lúc nãy bác hỏi tôi có thể làm gì cho bác.
Điều đó tùy thuộc ở bác. Có thể sau này tôi sẽ hết sức làm mọi
cách để mắt bác nhìn được hoàn toàn. Nhưng trước đó bác phải
giúp tôi một việc… Ồ, không ngại gì, chỉ là một thí nghiệm nhỏ,
nó sẽ làm cho bác ít nhất cũng ra khỏi bóng đêm của sự mù lòa.
– Cái gì, ông định nói gì? Tôi sẽ phân biệt ánh sáng với bóng
tối? Ông Viroval hứa sẽ trả lại ánh sáng hoàn toàn cho tôi kia!
– Tôi đã bảo mà! Chưa đến lúc để thảo luận vấn đề này với
bác. Chưa phải thời điểm của tôi...
Xe đỗ trước cửa nhà Dobel trọ. Kruss nói:
– Bây giờ tôi biết nhà bác rồi. Cho phép tôi gửi bác tấm danh
thiếp. Hy vọng sẽ được thấy bác ở nhà tôi ba tháng nữa.
– Tôi cũng mong được thấy ông, thấy bằng chính đôi mắt
của tôi kia, dù chỉ đủ chứng minh rằng Viroval...
– ...Không phải là lang bịp, mà là một danh y chứ gì? – Kruss
cười phá lên và đóng sập cửa xe lại. – Rồi sẽ xem, sẽ xem!
Người mù không nói gì, mạnh dạn bước lên hè và biến mất
sau cửa.
oOo
Và bây giờ ta thấy Dobel lại ngồi trong ghế nệm êm của xe
taxi. Bác chỉ còn đúng số tiền để trả chuyến xe này nữa là hết. Xe
đã bỏ xa đằng sau tiếng tàu điện leng keng và tiếng ồn ào của
những phố đông người. Làn da cảm thấy sức nóng ram ráp của
tia nắng mặt trời. Trong cái phố yên tĩnh này chắc không có
nhiều nhà cao che mất mặt trời. Ngửi thấy mùi cây cỏ, mùi đất,
mùi mùa xuân. Dobel hình dung ra những ngôi nhà xinh xắn
chung quanh có vườn hoa. Không có tiếng động nào khác ngoài
tiếng bánh xe siết trên đường nhựa. Những xe hơi ấy chắc là của
các chủ nhân những ngôi nhà lịch sự nơi đây. Nếu Kruss ở phố
này thì đúng là một người rất giàu.
Xe đỗ. Dobel hỏi:
– Đến rồi ư?
– Vâng, – anh lái xe đáp. – Để tôi đưa bác vào tận nhà.
Chung quanh mùi hoa thơm ngào ngạt. Cát xào xạo dưới
chân đi.
– Bác cẩn thận, có bậc đấy, – anh lái xe hướng dẫn.
– Cảm ơn anh. Bây giờ tôi có thể đi một mình.
Dobel trả tiền, bước lên bậc, đẩy cửa, bước vào một phòng
tiền sảnh mát lạnh.
– Bác hỏi bác sĩ Kruss ạ? – tiếng phụ nữ hỏi.
– Vâng. Nhờ nói hộ là có ông Dobel. Bác sĩ đã biết...
Dobel cảm thấy một bàn tay nhỏ, ấm đặt lên cánh tay mình.
– Tôi xin đưa bác vào phòng khách.
Qua sự thay đổi các mùi hương khác nhau và không khí lúc
ấm, lúc mát, qua các âm khác nhau do các bức tường vọng lại,
Dobel đoán mình đang được dẫn từ phòng này qua phòng khác:
có phòng lớn, phòng nhỏ, phòng tràn ngập ánh nắng và phòng
tối hơn, có phòng nhiều đồ đạc và phòng trống rỗng. Thật là
một ngôi nhà kỳ dị, và cũng kỳ dị thay cái lối dẫn bệnh nhân đi
qua nhiều phòng đến thế.
Có tiếng cửa kẹt nhẹ và giọng nói quen thuộc của Kruss cất
lên:
– Ồ, ai thế này! Chào bác Dobel. Cô Irene, cô có thể để khách
đấy cho tôi.
Bàn tay lạnh và khô ráp của Kruss thay thế bàn tay nhỏ
nhắn, ấm áp của cô y tá. Bước vài bước nữa, Dobel ngửi thấy mùi
thuốc sặc sụa. Nghe có tiếng thủy tinh, sứ gốm, tiếng sắt thép
chạm nhau. Hẳn là có người đang sắp xếp các dụng cụ y tế, bát
đĩa. Kruss vui vẻ:
– Thế là bác đã tìm đến tôi, bác Dobel. Mời bác ngồi ghế này...
Ta không gặp nhau đã được... xem nào... nếu tôi không lầm,
được hai tháng đấy nhỉ? Đúng, đúng, hai tháng. Ông bạn đồng
nghiệp đáng kính của tôi, ông bác sĩ Viroval, đã móc nhẵn túi
bác nhanh hơn tôi dự đoán. Thiết nghĩ hỏi bác có trông thấy tôi
lúc này không là thừa, có phải không?
Dobel cúi đầu lặng lẽ.
– Thôi, bác bạn già ơi, đừng mất hy vọng. Bác sẽ không phải
hối tiếc là đã đến tìm tôi.
– Vậy ông muốn gì ở tôi? – Dobel hỏi.
– Tôi xin nói hết sức sòng phẳng, – Kruss nói, – Bác chính là
người tôi đang cần. Vâng, tôi sẽ chữa cho bác không lấy tiền và
lại còn chu cấp mọi nhu cầu của bác. Tôi sẽ làm hết sức mình trả
lại hoàn toàn ánh sáng cho bác, sau khi hợp đồng giữa chúng ta
hết hạn.
– Hợp đồng nào? – Dobel ngơ ngác.
– Tất nhiên là tôi với bác phải ký kết một hợp đồng bằng văn
bản hẳn hoi chứ, – Kruss cười. – Tôi cũng phải nghĩ đến quyền
lợi của tôi chứ! Tôi có một phát minh nhỏ, cần được đem thử
nghiệm. Bác sẽ chịu một phẫu thuật có phần nguy hiểm nhất
định. Nếu thí nghiệm của tôi thành công, thì dù tạm thời còn bị
mù, bác sẽ nhìn thấy những thứ mà không người nào khác trên
đời này thấy được. Sau đó, lúc nào tôi xin được cấp bằng sáng
chế xong, tôi sẽ lĩnh trách nhiệm làm hết sức mình để trả lại cho
bác thị giác bình thường.
– Và ông cho rằng tôi chỉ còn có việc nhận lời?
– Nhất định là thế, bác Dobel ạ. Bác đang ở trong tình thế bế
tắc. Nếu không nhận, bác sẽ đi đâu? Đi ăn xin ngoài phố ư?
– Nhưng ông hãy nói sau khi phẫu thuật rồi thì sẽ xảy ra
chuyện gì với tôi? – Dobel ấm ức hỏi.
– Nếu phẫu thuật thành công... Tôi tin rằng sau khi mổ, bác
có thể sẽ nhìn thấy dòng điện, các từ trường, các sóng vô tuyến,
tóm lại là mọi sự vận động của các điện tử. Vô lý ư? Sao? Không,
rất đơn giản.
Vừa đi đi lại lại trong phòng, Kruss vừa giải thích phát minh
của mình như người giảng bài:
– Bác thừa biết rằng mỗi cơ quan trong thân thể người ta có
cách riêng biệt, đặc thù của mình để phản ứng với các tác nhân
kích thích từ bên ngoài. Khẽ đập vào tai, bác sẽ nghe thấy một
tiếng động. Nhưng nếu đập hoặc ấn lên nhãn cầu, bác sẽ có
những cảm giác lóe sáng. Người ta thường nói “nổ đom đóm
mắt” là thế. Tóm lại, cơ quan thị giác đáp ứng bằng những cảm
giác lóe sáng không phải chỉ đối với những kích thích quang
học, mà cả với những kích thích cơ học, nhiệt điện… Tôi có làm
một cái máy rất nhỏ, một thứ máy điện nghiệm có độ nhậy rất
cao. Máy có những dây bạc cực mảnh nối vào dây thần kinh thị
giác, hoặc vào trung tâm thị giác của não. Cho dòng điện chạy
vào máy, dây thần kinh hoặc trung tâm thị giác phải phản ứng
lại bằng những cảm giác lóe sáng. Rất đơn giản. Cái khó là làm
sao nối được cơ cấu bất động của máy vào hệ thị giác sống của
con người, vì phải làm cho bác có thể chiếu những cảm giác...
 





